Friday, May 8, 2015

Điện Kiến Trung

Điện Kiến Trung trong Tử Cấm thành (Huế) được vua Khải Định cho xây vào năm 1921-1923 cùng thời gian với xây lăng để làm nơi sinh hoạt của vua trong hoàng cung. Ngày 6-11-1925 vua Khải Định đã băng hà tại điện này.



Điện Kiến Trung làm bằng giấy (đồ mã) đốt trong tang lễ vua Khải Định vào năm 1926

Sau này, vua Bảo Đại cho tu sửa lại điện, tân trang các tiện nghi Tây phương và cùng hoàng hậu Nam Phương dọn về ở tại điện Kiến Trung. Tại điện này, Hoàng hậu Nam Phương đã lần lượt hạ sanh 5 người con :

- Thái tử Bảo Long, sinh ngày 4-1-1936

- Công chúa Phương Mai, sinh ngày 1-8-1937

- Công chúa Phương Liên, sinh ngày 3-11-1938

- Công chúa Phương Dung, sinh ngày 5-2-1942

- Hoàng tử Bảo Thắng, sinh ngày 9-12-1943.

Ngày 9 tháng 3, Nhật đảo chính Pháp và thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam. Hai ngày sau, 11 Tháng Ba vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo.

Điện Kiến Trung xưa được xây dựng trong Tử Cấm Thành, nay thuộc địa bàn phường Thuận Thành, Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Điện có kiến trúc mang phong cách châu Âu, lúc đầu chỉ gồm có lầu Du Cửu, do vua Duy Tân cho xây dựng vào năm 1915 trên nền cũ của lầu Minh Viễn.

Đến năm 1916, vua Khải Định mở rộng thành cung điện và đặt tên là điện Kiến Trung, dùng làm nơi ở và làm việc của vua. Bên trái toà lầu có phòng Đông Cung, bên phải có Võ Hộ Giá phòng. Đến thời vua Bảo Đại, điện Kiến Trung là nơi ăn ở và sinh hoạt của cả gia đình nhà vua, bao gồm hoàng hậu Nam Phương, hoàng thái tử Bảo Long, hoàng tử Bảo Thăng và các hoàng nữ Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung. Trong chiến sự năm 1947, điện đã bị cháy rụi hoàn toàn. Hiện lầu Kiến Trung đang được lên kế hoạch khôi phục.

Wednesday, May 6, 2015

Cửu đỉnh Huế: Bộ sưu tập độc đáo hình ảnh đất nước

Cửu đỉnh Huế - Trong kho tàng văn hóa vật thể của cố đô Huế, Cửu đỉnh là một trong những công trình nghệ thuật đặc sắc nhất, một tượng đài văn hóa Việt.

Ai đã từng tham quan Đại nội Huế, đến trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu (nơi thờ các vua triều Nguyễn) đều không khỏi ngỡ ngàng, thán phục trước 9 chiếc đỉnh đồng đồ sộ, uy nghi như chứng nhân của lịch sử của một vương triều tồn tại 143 năm.

Theo sách “Đại Nam thực lục chính biên”, bộ Cửu đỉnh được vua Minh Mạng cho khởi đúc vào tháng 12/1835 và hoàn thành tháng 6/1837, do những nghệ nhân Phường đúc Huế thực hiện. Tất cả 9 đỉnh đều có hình dáng chung giống nhau, thân bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới có ba chân. Nhưng kích thước và khối lượng (khối lượng các đỉnh được ghi rõ bên trái cổ đỉnh) lại không giống nhau, đỉnh cao nhất (Cao đỉnh) 2,5m, nặng 2.061 kg, đỉnh thấp nhất (Huyền đỉnh) 2,3m, nặng 1.935 kg.

Các cặp quai trên miệng đỉnh không hoàn toàn giống nhau, cặp đúc vuông, cặp đúc tròn, cặp xoắn theo kiểu dây thừng. Chân đỉnh cũng khác nhau, có bộ uốn theo kiểu chân quỳ, có bộ đúc thẳng. Trên mỗi đỉnh đều khắc nổi tên hiệu do vua Minh Mạng đặt, ứng với thụy hiệu các vị vua Nguyễn. Mở đầu là Cao đỉnh tượng trưng cho sự vĩ đại; Nhân (Nhơn đỉnh) là lòng tốt, tượng trưng đức; Chương đỉnh là sự gương mẫu, là ánh sáng; Anh đỉnh là tài giỏi vinh hạnh, hiển đạt; Nghị đỉnh là ý chí kiên cường, cương nghị; Thuần đỉnh là sự hoàn thiện, phong phú; Tuyên đỉnh là sự hài hòa, tinh thông; Dụ đỉnh là nền tảng sự thịnh vượng; Huyền đỉnh, ứng với nơi sâu thẳm.

Sau khi hoàn thành, Cửu đỉnh được đặt thẳng hàng trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu. Riêng Cao đỉnh được đặt ở giữa và lên trước các đỉnh khác 3m, tượng trưng cho Cao Thế tổ Hoàng đế Nguyễn Ánh - người lập nên vương triều Nguyễn.

Có thể nói Cửu đỉnh là tác phẩm nghệ thuật tổng hợp của nhiều lĩnh vực như: kiến trúc, hội họa, lịch sử, địa lý, văn hóa và sự diệu nghệ của kỹ thuật đúc đồng Việt Nam đầu thề kỷ XIX, từ thiết kế, vẽ mẫu, rồi làm phôi khuôn. Người thợ phải làm ra những chiếc khuôn theo kích cỡ, mẫu mã, ký tự, hoa lá, chim muông, cảnh vật… để khi đúc ra các mẫu tạo ấy sẽ được kết dính với nhau một cách tự nhiên, giống như tự thân nó mọc ra vậy. Quả là kỳ công, tỷ mỉ vô cùng.

Bộ Cửu đỉnh không chỉ thể hiện ước nguyện bền vững trường tồn của vương triều Nguyễn như chỉ dụ của vua Minh Mạng: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu… Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc 9 cái đỉnh để ở nhà Thế miếu... Đó là để tỏ ý mong rằng, muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định”.

Cửu đỉnh còn là bộ sưu tập đặc sắc của văn hóa Việt Nam, với 153 hình ảnh tiêu biểu đặc trưng nhưng cũng rất gần gũi thân thuộc của đất nước từ Nam ra Bắc được chạm khắc nổi trên Cửu đỉnh. Tất cả 153 mảng hình trên Cửu đỉnh là những bức chạm độc lập, sống động, tinh xảo, là sự kết hợp điêu luyện giữa nghệ thuật đúc và chạm nổi đồ đồng đạt trình độ tuyệt kỹ của những người thợ đúc đồng Việt Nam.

Quanh hông mỗi đỉnh được bố trí 17 cảnh vật được sắp xếp theo một biểu đồ hợp lý, chia làm ba hàng ngang, mỗi hàng gồm một chủng loại, mỗi hình ảnh đều có ghi tên từng cảnh vật. Đặc biệt Cửu đỉnh là 9 đỉnh, nên các hình ảnh được thể hiện cũng xoay quanh con số 9 đặc trưng như: 9 vì tinh tú và thiên nhiên trong vũ trụ là Mặt trời, Mặt trăng, Gió, Sấm, Mây, Mưa, các sao Ngũ Tinh, Bắc Đẩu, Nam Đẩu; 9 ngọn núi lớn: Thiên Tôn, Ngự Bình, Thương Sơn, Hồng Lĩnh, Tản Viên, Núi Duệ, Đại Lãnh, Hải Vân, Hoành Sơn; 9 sông lớn: sông Hậu, sông Tiền, sông Mã, Bạch Đằng, sông Hồng, sông Hương, sông Gianh, Thạch Hãn, sông Lam.

Cửu đỉnh còn chạm khắc hình 9 cửa biển, cửa quan, biển, cầu vồng; 9 con thú lớn bốn chân; 9 con vật linh; 9 loài chim; 9 loài cây lương thực; 9 loại rau củ; 9 loại hoa; 9 loại cây lấy quả; 9 loại dược liệu quý; 9 loại cây thân gỗ; 9 loại vũ khí; 9 loài cá, ốc, côn trùng; 9 loại thuyền, xe, cờ. Tất cả những số 9 ấy hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên sông núi đất trời Việt Nam thống nhất hoành tráng.

Chiêm ngưỡng Cửu đỉnh Huế, du khách gần xa như được tham quan một bộ sưu tập triển lãm độc đáo những hình ảnh của đất nước một cách đầy đủ và thi vị nhất. Vì thế trải qua gần 200 năm nay, Cửu đỉnh Huế không chỉ được coi là một trong những tuyệt tác của nghệ thuật đúc đồng Việt Nam, mà còn là một di sản văn hóa lịch sử đặc sắc có một không hai của Huế và của Việt Nam.

Tuesday, May 5, 2015

Chùa Thiên Mụ

Du Lịch Huế - Chùa nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long.

Tên của ngôi chùa bắt nguồn từ một huyền thoại. Chuyện kể rằng từ xa xưa, dân địa phương đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên ngọn đồi nơi chùa toạ lạc ngày nay, và nói: rồi sẽ có chân chúa đến lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch. Hễ nói xong là bà biến mất.

Sau khi vào trấn Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng một lần đi qua, nghe kể chuyện đã cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ Tự. Chùa nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long.



Năm 1601 chùa được xây dựng. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5m nặng 3285 kg, và năm 1715, chúa lại cho xây dựng tấm bia cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch. Vào thời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trùng tu chùa. Tháp Phước Duyên (ban đầu được đặt tên là tháp Từ Nhân) được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21 m). Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga.

Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói còn treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng năm 1714. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa.

Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi, rực rỡ. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch, phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.



Ngày nay chùa vẫn được tiếp tục chỉnh trang ngày càng huy hoàng, tráng lệ, luôn hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách gần xa.

Sunday, May 3, 2015

Định Huệ tự - ngôi chùa trên thượng nguồn sông Hương

Du Lịch Huế - "Chùa Định Huệ tọa lạc tại trên thượng nguồn sông Hương thuộc thôn Lương Miêu xã Dương Hòa, huỵện Hương Thủy nên còn gọi là chùa Lương Miêu. Muốn đến thăm chùa, có hai con đường, đường bộ theo đường Dạ Lê hoặc đường Tuần lên, nhưng thuận tiện hơn cả là đi thuyền trên sông Hương vì như thế vừa được tham quan sông Hương ngắm cảnh quan kỳ tú vừa mát mẻ mà lại khỏe người hơn.."

Từ sau năm 1975, thời kỳ mà cả nước đang gặp nhiều khó khăn, các chùa ở Huế phải đi làm ruộng, làm nương, có chùa thì đi mót khoai mót sắn từ các cánh đồng về để độ nhật. Trong tình hình đó ở Huế có một sư cô một thân một mình vượt núi trèo non lên tận thôn Lương Miêu nơi thượng nguồn sông Hương để khai hoang làm rẩy, lập thất, dựng tượng vừa tu trì vừa lao động độ sinh.

Chúng tôi ngược dòng sông Hương trên con đò vào một chiều hè Huế nắng nóng như đổ lửa. Lần lượt, đi qua rất nhiều những danh lam thắng cảnh chùa Thiên Mụ uy nghi, điện Hòn Chén linh thiêng, Văn Thánh cổ kính, đồi Vọng Cảnh thông reo, Núi Tứ Tượng với tượng Đài Bồ Tát Quán Thế Âm trắng giữa mây ngàn, cầu Tuần vắt ngang giữa trời xanh... Đò đến thôn Bằng Lãng đoạn sông hai nhánh thì rẽ theo dòng Hữu trạch hướng đi Tuần giữa những làng quê thôn dã và núi non trùng điệp, hai bên bờ có rất nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng dân gian như đình, chùa, am, miếu... một số nơi người ta còn cúng bái rình rang. Đây cũng là một yếu tố để người Huế gọi sông Hương là dòng sông tâm linh.

Đi được khoảng gần 3 giờ đồng hồ thì đò qua khỏi thôn Tân Ba và Dương Hòa - chiến khu xưa một thời đạn bom cày xới, người chủ đò chở chúng tôi phải khó khăn lắm mới điều khiển con đò len lỏi vượt qua những khúc sông cạn nhìn thấy đáy và giữa dòng có nhiều cồn cỏ dại, chia dòng nước chảy ra hai phía ven bờ. Để sau hơn 3 giờ đồng hồ ngược dòng sông Hương, chiếc đò mới rẽ lái cập bờ. Chúng tôi được hướng dẫn vượt qua một dải đất phù sa và leo lên một con dốc thoai thoải hai bên đầy những tre nứa và cây rừng, vừa lên khỏi dốc, một chiếc cổng tam quan nhỏ nhắn xinh xắn hiện ra dưới cái nắng chiều vàng chiếu lên 3 chữ Hán "Định Huệ Tự" (chùa Định Huệ). Và trong không gian núi rừng có tiếng mõ vang vọng theo gió chiều hiu hiu khiến cho chúng tôi như vỡ òa lên với bao niềm xúc động "trời ơi, giữa chốn núi rừng hiu quạnh thế nầy mà có ai đến dựng chùa thờ Phật gõ mõ tụng kinh". Theo con đường đất quanh co đi qua một chiếc cổng phụ vào một khu vườn, ngôi chánh điện chùa Định Huệ thấp thoáng hiện ra dưới những tán cây rừng rậm rạp.

Tôi đi ngay vào chánh điện, nơi có tiếng mõ đang vọng ra, một vị Ni sư già dáng người gầy dừng mõ quay sang tôi nở nụ cười hiền hòa và vái chào thân thiện. Thoạt nhìn vị Ni sư rất tội ghiệp, và thiệt thà như chính những người ở rừng đúng nghĩa. Sau khi thăm hỏi sơ qua, tôi theo Ni sư xuống nhà Tăng và cùng chào mọi người. Với tính hài hước Ni sư chuyện trò và tự giới thiệu Ni sư pháp hiệu là Thích Nữ Minh Tâm, năm nay nữa là đã hưởng được 70 mùa xuân. Ni sư vốn quê ở huyện Hải Lăng, Quảng Trị bởi cảm mến cảnh thiền môn nên đã vào Huế nhập chúng tu học và hành đạo tại tịnh thất Hoàng Mai... Và chúng tôi rất ấn tượng bởi giọng nói ào ào như đàn ông "thưa quý vị kiếp trước tui là đàn ông, nhưng do vụng tu nên kiếp ni phải bị đọa làm đàn bà nhưng dư báo vẫn còn nên tui vẫn có lối sống và cách nói năng đi đứng như đàn ông và bị 'đày' lên đây một thân một mình cùng gió núi mây ngàn heo hút". Ni sự vừa cười vừa nói với mọi người.

Ni sư cho biết, sau năm 1975 núi rừng nơi đây hoang vu dữ dằn lắm không như bây giờ đâu, một thân một mình ngày đêm cày xới hơn 2 hetca đất rừng để trồng trọt làm nương làm rẫy. Mà quý vị biết rồi, đến vùng đất lạ dẫu có mạnh mẻ đến mấy nhưng cũng có lúc phải run sợ trước những hiện tượng tự nhiên huống chi "đến đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vẫy vùng cũng run". Đã rứa, buổi đầu thì có chi mô, một cái lều tranh tạm bợ, đêm hôm nghe sột soạt bên ngoài cũng thấy lo, lâu dần mới thành quen, và hình như Hộ pháp, Long thiên, và sơn thần thổ địa ở đây cũng ủng hộ nên đã che chở không cho tui thấy điều gì đáng sợ và cũng không có hiện tượng ma quỷ hay thú dữ nào đến quấy phá.

Nghe Ni sư kể, chúng tôi đồng thời liên tưởng đến hình ảnh một vị sư cô chỉ mới vừa hơn 30 tuổi thôi mà đã dám một thân một mình đến giữa chốn núi rừng hoang vu nầy khai sơn lập tự mà tâm phục khẩu phục. Không tâm phục khẩu phục sao được khi mà mãi cho đến hôm nay, khi cơ ngơi đã lên hình lên dạng, chùa chiền tăng xá đã khá kiên cố, đời sống kinh tế cũng tạm ổn nhưng chẳng có ai dám đến đây để đồng tu với Ni sư. "Họ sợ lắm, chốn núi rừng khỉ ho cò gáy, không trường không lớp ai mà lên" Ni sư nói. Hiện có một ni cô vừa được Ni sư về mượn dưới chùa phố lên để "có chúng mà an cư" nhìn có vẻ hơi buồn nhưng bước đầu cũng đã thích nghi.

Ngôi chùa Định Huệ bây giờ được Ni sư cho xây dựng vào năm Bính Tuất (2006) tuy khiêm tốn, nhỏ nhoi chỉ khoảng chừng 200m2 nằm lọt thỏm giữa núi rừng đại ngàn nhưng như thế cũng đã là khá khang trang lắm rồi. Giữa chốn thâm sơn cùng cốc nơi thượng nguồn sông Hương nầy mà làm được như thế là đã ngoài sức tưởng tượng lắm rồi huống hồ chi nguồn kinh phí để xây dựng chùa nhờ vào sự chắt góp được từ bán những trái mít, những trái vả hay những lứa bạch đàn thì quả là quá thần kỳ, thi thoảng lắm mới có một vài Phật tử quen biết tìm lên thăm chùa, thăm Ni sư cúng dường một ít tịnh tài tịnh vật.

Ni sư đãi chúng tôi bằng những chén nước lá thơm nức mùi hương hoa rừng, những múi mít vừa hái xuống còn ngấn những giọt mật đường ngọt lịm và những tô mì ăn liền với rau rừng, những chén cơm nguội và nước tương nguyên chất đạm bạc nhưng sao thấy ngấm nặng tình đạo vô cùng.

Chào Ni sư, chào ngôi chùa Định Huệ trên thượng nguồn để xuôi theo dòng nước sông Hương thâm thẩm tối để ra về mà lòng nghe nặng một nỗi niềm cảm khái khôn nguôi...

Hàm Rồng - một bãi biển đẹp của Huế

Du Lịch Huế - Chưa có “thương hiệu” như biển Lăng Cô, Cảnh Dương, Thuận An, nhưng có thể nói bãi biển Hàm Rồng nằm bên kia phá Tam Giang - Cầu Hai thuộc xã Vinh Hiền (Phú Lộc) là một địa chỉ mà nếu du khách đã một lần đến đều mong có dịp trở lại..

Trước đây về biển Hàm Rồng khá cách trở nhưng nay chuyện ấy không còn, bởi hệ thống giao thông đã thoáng rộng, thông suốt. Bây giờ, vềbiển Hàm Rồng có thể theo hai ngả. Qua hết cầu Trường Hà (Phú Vang) xuôi về khoảng 30 phút nếu ngồi trên ô tô, hoặc xe máy; hay từ trung tâm huyện Phú Lộc hướng về phía đông qua cầu Vinh Hiền rẽ trái khoảng hơn 2 cây số theo đường nhựa phẳng lì. Hàm Rồng ở một vị trí khá đẹp, cảnh quan nên thơ bởi có núi Linh Thái cao gần 800 mét án ngữ phía sau với những mảng rừng xanh thẳm, uốn lượn theo nhiều vòng cung ôm lấy bãi biển dài gần 6 cây số, với 3 điểm tắm lý tưởng là bãi Hàm Rồng, Đông Dương và bãi Đầm.



Biển Hàm Rồng lúc nào cũng đẹp như bức tranh thủy mạc. Một không gian biển không ồ ã, xô bồ; mặt nước biển lúc nào cũng trong xanh, lại điểm xuyết những quần thể đá lớn nhỏ sắp xếp chồng lên nhau tạo những hang đá đẹp. Chính yếu tố này đã gợi cho những khách có tính tò mò, thích khám phá thiên nhiên nơi đây. Từ bờ lội ra khoảng 10-15 mét, khách có thể chọn độ sâu của biển thích hợp để ngâm tắm, thỏa sức vùng vẩy cùng con sóng vỗ để xua đi bao mệt nhọc của công việc thường nhật. Hoặc có thể ngồi trên bờ gần mặt biển để nhìn sóng gợn, nghe tiếng gió biển cùng tiếng reo của lá cây từ những rừng phi lao phía sau tạo nên một sự cộng hưởng của âm thanh hiền hòa, hoang dã.

Gần đây chính quyền địa phương ở đây đã quan tâm nhiều đến biển Hàm Rồng. Theo quan sát của cá nhân chúng tôi cảnh quan môi trường và con đường từ trung tâm nối ra biển và các tuyến ven biển rợp bóng dương đã thông thoáng, sạch sẽ; công tác an ninh, an toàn ở khu vực biển, bãi tắm được chú trọng do công an viên thôn, xã quản lý; nhiều dịch vụ phục vụ khách ở biển Hàm Rồng được nâng cấp, đầu tư, như nhà trọ nghỉ qua đêm, hàng quán ẩm thực với các món ăn đặc sản biển ở địa phương bình dân. Anh Hồ Xuân Thọ-một người đã mở hàng ăn phục vụ du khách ở biển Hàm Rồng hơn 20 năm qua cho rằng, tất cả các chủ quán kinh doanh ở đây đều lấy chữ tín làm trọng. Mọi thứ phục vụ cho khách đều lấy công làm lời. Vì thế khách bình dân có thể chọn biển Hàm Rồng để thăm tắm, nghỉ dưỡng vào dịp hè.

Saturday, May 2, 2015

Chuyện kể ở làng cổ Phước Tích

Du Lịch Huế - Làng cổ Phước Tích thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế luôn quyến rũ du khách với quần thể phong cảnh nhà vườn xanh mát. Cây thị gần cả ngàn năm tuổi tỏa bóng bên ngôi miếu cổ là một phần hồn vía của làng với nhiều mẩu chuyện thú vị về những di chỉ Chăm.


Góc miếu Cây Thị - hồn vía của làng cổ Phước Tích
Chuyện về Yoni, miếu Bà Giằng, chuyện bến Cây Bàng bên dòng Ô lâu với trụ đá và tấm bia hình vòm cuốn bằng chất liệu đá sa thạch mà người Chăm đã để lại như một minh chứng về sự trường tồn nền văn hóa độc sắc của họ. Chuyện về sự "truy tìm” Linga để rồi chỉ nhầm vào viên đá neo đò suýt nữa một tờ báo uy tín đưa tin... Tất cả vẫn chưa hẳn để lại dấu ấn sâu đậm nếu ai đó chưa từng ngủ nhờ tại một ngôi nhà cổ nào đó trong làng...

Yoni - dấu tích Chăm còn đó
Nhưng. Điều dễ nhận thấy khi du khách tới đây, là sự thưa vắng con người. Cuốn sách "Từ Kẻ Đôộc đến Phước Tích, chân dung ngôi làng gốm cổ bên dòng Ô lâu” đã thống kê việc đáng "báo động” như sau: "Ngôi làng có lúc lên đến gần 2.000 người này đã không ngừng giảm về qui mô dân số, với khoảng 600 người vào những năm 1980, 450 người (năm 2003) và đến nay (2010) chỉ còn 320 người. Đặc biệt là trong số đó, lại có đến trên dưới 40% là người già”. Rất nhiều ngôi nhà rường mấy trăm tuổi, chủ của nó chỉ là các mệ, sống lặng lẽ như cái bóng, như những linh hồn của chính nó.

Một trong những ngôi nhà rường quý, "thiếu” người ở
Tôi từng đến và ở lại nơi đây nhiều ngày. Thơ thẩn dạo quanh ngôi làng có diện tích khoảng một cây số vuông này, chỉ toàn gặp người già. Trung niên, thanh niên vắng, trẻ nít càng hiếm. Đa số đã vào Nam lập nghiệp. Rất nhiều khu vườn rộng thênh, chỉ ngôi nhà chính giữa bỏ hoang. Ăn nên làm ra, những người sống xa quê, thật may là họ không bán đất ở làng. Một bác biền biệt mấy chục năm, nay trở về tính mua lại mảnh đất của làng song không có. Đây là điều mừng. Nếu đất được các gia chủ bán, sẽ manh mún, và đương nhiên những chủ mới họ xây nhà mới; nhà mới lổn nhổn đan xen nhà rường, tường bê tông bao đan xen những hàng chè tàu xanh, ngôi làng sẽ mất đi dáng cổ.

Một sản phẩm gốm hiện đại ở làng gốm cổ Phước Tích
Từ sự lựa chọn nghề gốm làm cứu cánh sinh tồn từ lúc mới hình thành, nay nghề thủ công đã bị lay gốc trước sức ép thị trường. Cách vài ba năm trở lại đây, làng được đầu tư một lò nung gốm hiện đại, sản phẩm cũng theo mẫu hiện đại nên không bán được bao nhiêu. Người dân đặc biệt lớp thanh niên tạm rời làng phiêu tán kiếm kế sinh nhai. Trong làng chỉ vài ba cụ già còn nắm vững và thực hành được quy trình nặn gốm thủ công. Hiện tổ chức Jica Nhật Bản muốn hồi phục đồ gốm đất nung, việc đào tạo lớp trẻ thành nhân công đang là mục tiêu chính, song cũng không dễ dàng. Và, biết bao giờ sẽ tạo được sản phẩm gốm nổi tiếng Om Ngự như đã từng được sử ngợi ca khi chép về xứ Kẻ Đôộc này?

Cây vả từng là một sản phẩm kinh tế chủ đạo
Những ngôi nhà mới cũng đã nhiều hơn. Cây vả vốn là sản phẩm kinh tế gia đình, nay rẻ rúng và được chủ vườn "lược” đi khá nhiều. Những mệ già, họ không biết làm gì nên còn vun xới từng gốc vả, lâu lâu hái mớ bưng ra chợ đắp đổi ít nhiều.
Mấy năm trước đặt chân trên con đường đất bao quanh làng Phước Tích mát rượi; lang thang thăm thú, tôi như được sống ở chính nông thôn quê mình hồi chưa rời đồng ruộng rửa chân lên phố. Nay thì con đường chính này đã được lát gạch, giữa lòng màu đỏ sậm; thiết nghĩ cũng phải thêm dăm năm nữa, khi thứ gạch này cũ đi và loang rêu, nó mới hợp với phong cách của một ngôi làng cổ.

Võ Thánh

Du Lịch Huế - Sau khi xây Văn Miếu tại kinh đô Huế vào năm Gia Long thứ 9 (1808), các tỉnh trong khắp đất nước lần lượt xây dựng Văn Miếu tại địa phương.

Việc lập Văn Miếu cho thấy triều đình trọng Nho học và đề cao việc giáo dục. Tuy dựa trên nền tảng Nho học nhưng võ bị dưới thời Nguyễn cũng chiếm một vai trò khá quan trọng. Vì thế, vào năm 1835 dưới thời Minh Mạng, theo kiến nghị của Bộ Lễ, triều đình chuẩn y cho xây dựng Võ Miếu nhằm thể hiện sự chú trọng đến giáo dục quân sự và đề cao nghiệp võ. Theo vua Minh Mạng: “Điều cốt yếu trong việc trị nước phải gồm có cả văn lẫn võ, không thể thiên về một bên. Việc xây dựng Võ Miếu là việc nên làm... Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đời nào cũng có người tài giỏi binh cơ mưu lược, huống chi triều đình ta từ lúc khai quốc cho đến giai đoạn Trung hưng, nhiều người ra mưu giúp nước, công lao rực rỡ không kém gì người xưa, cần biểu dương để khuyến khích nhân tài...”.



Võ Miếu được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương. Với chu vi khoảng 400m, cấu trúc Võ Miếu cũng không cầu kỳ, gồm một miếu chính theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, phía trước có xây 2 nhà phụ gọi là Tả Vu và Hữu Vu đối diện nhau. Chung quanh có xây thành bao bọc, phía ngoài thành có nhà Tể sinh - là nơi giết súc vật khi tổ chức cúng tế. Năm 1839 (Minh Mạng thứ 20), triều đình cho dựng ba tấm bia Võ Công ở trước sân Võ Miếu. Những tấm bia này ghi tên những danh tướng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai triều vua Gia Long và Minh Mạng như: Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Nguyễn Xuân, Phạm Văn Điển... Về sau, còn có hai tấm bia ghi tên những Tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới thời Tự Đức: 1. Khoa Ất Sửu (1865) 2. Khoa Mậu Thìn (1868) 3. Khoa Kỷ Tỵ (1869). Bên cạnh một số danh tướng Việt Nam như: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội..., trong miếu còn có bài vị thờ các danh tướng của Trung Quốc như: Hàn Tín, Trương Lương, Gia Cát Lượng... Việc tế lễ ở Võ Miếu được tổ chức một năm 2 lần vào mùa thu và mùa xuân. Phẩm vật cúng tế có những quy định riêng. Tuy nhiên, về sau phẩm vật có thay đổi (tùy theo quy định của từng triều vua) nhưng chủ yếu vẫn là tam sinh (trâu, heo, dê) và hương hoa, quả phẩm. Về hình thức, việc lập Võ Miếu nhằm tạo ra một sự đăng đối so với Văn Miếu.

Song thực tế, Võ Miếu không có vai trò quan trọng như Văn Miếu. Nho giáo hay chính xác là Nho học là hệ tư tưởng quán xuyến toàn bộ nền tảng chính trị giáo dục của chế độ phong kiến mà ở đây là triều Nguyễn. Văn Miếu ngày xưa là nơi thiêng liêng nhất đối với người đọc sách thánh hiền và Khổng Tử được tôn vinh là người thầy của muôn đời, ngang hàng với các vị Thánh. Võ Miếu được lập ra cũng để tôn vinh những công thần đã đóng góp nhiều công lao cho triều đại, mục đích động viên những người theo đòi võ nghiệp mong lập được chiến tích để lưu danh muôn thuở Triều Nguyễn lập ra Võ Miếu để khuyến khích nhân tài, tỏ sự công bằng giữa văn và võ. Nhưng tiếc thay, thực tế đã không được như vậy. Giá như đối với việc rèn luyện binh mã, nâng cao trình độ kỹ thuật quân sự, hiện đại hóa vũ khí luôn được chú trọng như việc đọc sách làm thơ thì đất nước ta đã có thể tránh khỏi họa xâm lăng suốt gần một thế kỷ. Võ Miếu vẫn còn đó, nếu để ghi danh những anh hùng có công với đất nước thì có lẽ sẽ không đủ chỗ. Nó chỉ còn là một chứng tích nhỏ bé, thầm lặng góp cùng những di tích khác khi nói về một Huế của ngày xưa.