Đàn Xã Tắc (Huế) - Địa điểm: Phường Thuận Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đàn Xã Tắc được xây dựng vào tháng 3 năm Bính Dần, tức tháng 4 năm 1806. Đàn được xây dựng bên trong Kinh thành, phía bên phải Đại Nội, nay thuộc phường Thuận Hòa.
Đàn Xã Tắc được triều đình dùng để cúng tế thần Xã (thần Đất), thần Tắc (thần Lúa).
Điều đặc biệt của Đàn Xã Tắc là khi xây dựng Đàn, vua Gia Long đã ban chiếu cho tất cả các tỉnh, thành, dinh, trấn trên cả nước phải chuyên chở về Kinh đô một số đất sạch, chắc để đắp Đàn. Đất để đắp Đàn Xã Tắc là đất của cả nước, tượng trưng cho máu thịt của toàn quốc, vì vậy, Đàn Xã Tắc càng trở nên thiêng liêng và quý giá hơn.
Đàn Xã Tắc ngày xưa năm 1914 ( ảnh tư liệu )
Diện mạo của Đàn Xã Tắc, nằm lộ thiên quay mặt về hướng Bắc, Đàn gồn hai tầng hình vuông. Tầng trên cao 1,60m, mỗi cạnh dài 28m. Mặt nền được tô 5 màu (Ở giữa màu vàng, phía Đông màu xanh, phía Tây màu trắng, Nam màu đỏ, Bắc màu đen). Trên nền thiết trí 32 bệ đá để cắm tàn. Lan can quét vôi vàng. Giữa 4 mặt có xây bậc để lên xuống. Tầng dưới cao 1,20m, mỗi cạnh dài 70m. Mặt nền phía trước lát gạch, cao 1m có bổ trụ ở bốn góc và ở từng đoạn. Lan can quét vôi màu đỏ. Vòng tường thành hình chữ nhật bằng đá, cạnh Bắc - Nam dài 162m, cạnh Đông - Tây dài 202m. Tường cao gần 1,20m, dày 0,75m. Trổ 3 cửa ở mặt Bắc, các mặt còn lại mỗi mặt trổ 1 cửa. Ở mặt Nam có bức bình phong dài 10m, cao 3,70m, dày 0,85m. Ở mặt Bắc có hồ vuông, mỗi cạnh 57m.
Hàng năm triều đình tổ chức lễ cúng tế vào tháng 2 và tháng 8 âm lịch. Sau khi nhà Nguyễn cáo chung, Đàn Xã Tắc tàn tạ dần. Trước năm 1975, Đàn Xã Tắc được làm khu gia binh, nay là Khu Tập thể Xã Tắc với hơn 40 dãy nhà.
Dấu tích còn lại của Đàn Xã Tắc là một khoảng đất trống mỗi bề 30m, tương đương với mặt bằng tầng trên của Đàn cũ, một tấm bia bằng đá thanh, hồ ở phía Bắc và bình phong ở phía Nam.
Hiện nay, Trung tâm BTDT CĐ Huế đang nỗ lực khôi phục diện mạo của Đàn Xã Tắc để bảo tồn những giá trị vật chất và tinh thần của di tích này trong cuộc sống đương đại, góp phần gìn giữ và phát huy di sản văn hóa Huế một cách phong phú và toàn diện hơn.
Tuesday, June 9, 2015
Friday, May 8, 2015
Điện Kiến Trung
Điện Kiến Trung trong Tử Cấm thành (Huế) được vua Khải Định cho xây vào năm 1921-1923 cùng thời gian với xây lăng để làm nơi sinh hoạt của vua trong hoàng cung. Ngày 6-11-1925 vua Khải Định đã băng hà tại điện này.

Điện Kiến Trung làm bằng giấy (đồ mã) đốt trong tang lễ vua Khải Định vào năm 1926
Sau này, vua Bảo Đại cho tu sửa lại điện, tân trang các tiện nghi Tây phương và cùng hoàng hậu Nam Phương dọn về ở tại điện Kiến Trung. Tại điện này, Hoàng hậu Nam Phương đã lần lượt hạ sanh 5 người con :
- Thái tử Bảo Long, sinh ngày 4-1-1936
- Công chúa Phương Mai, sinh ngày 1-8-1937
- Công chúa Phương Liên, sinh ngày 3-11-1938
- Công chúa Phương Dung, sinh ngày 5-2-1942
- Hoàng tử Bảo Thắng, sinh ngày 9-12-1943.
Ngày 9 tháng 3, Nhật đảo chính Pháp và thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam. Hai ngày sau, 11 Tháng Ba vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo.
Điện Kiến Trung xưa được xây dựng trong Tử Cấm Thành, nay thuộc địa bàn phường Thuận Thành, Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Điện có kiến trúc mang phong cách châu Âu, lúc đầu chỉ gồm có lầu Du Cửu, do vua Duy Tân cho xây dựng vào năm 1915 trên nền cũ của lầu Minh Viễn.
Đến năm 1916, vua Khải Định mở rộng thành cung điện và đặt tên là điện Kiến Trung, dùng làm nơi ở và làm việc của vua. Bên trái toà lầu có phòng Đông Cung, bên phải có Võ Hộ Giá phòng. Đến thời vua Bảo Đại, điện Kiến Trung là nơi ăn ở và sinh hoạt của cả gia đình nhà vua, bao gồm hoàng hậu Nam Phương, hoàng thái tử Bảo Long, hoàng tử Bảo Thăng và các hoàng nữ Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung. Trong chiến sự năm 1947, điện đã bị cháy rụi hoàn toàn. Hiện lầu Kiến Trung đang được lên kế hoạch khôi phục.
Điện Kiến Trung làm bằng giấy (đồ mã) đốt trong tang lễ vua Khải Định vào năm 1926
Sau này, vua Bảo Đại cho tu sửa lại điện, tân trang các tiện nghi Tây phương và cùng hoàng hậu Nam Phương dọn về ở tại điện Kiến Trung. Tại điện này, Hoàng hậu Nam Phương đã lần lượt hạ sanh 5 người con :
- Thái tử Bảo Long, sinh ngày 4-1-1936
- Công chúa Phương Mai, sinh ngày 1-8-1937
- Công chúa Phương Liên, sinh ngày 3-11-1938
- Công chúa Phương Dung, sinh ngày 5-2-1942
- Hoàng tử Bảo Thắng, sinh ngày 9-12-1943.
Ngày 9 tháng 3, Nhật đảo chính Pháp và thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam. Hai ngày sau, 11 Tháng Ba vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo.
Điện Kiến Trung xưa được xây dựng trong Tử Cấm Thành, nay thuộc địa bàn phường Thuận Thành, Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Điện có kiến trúc mang phong cách châu Âu, lúc đầu chỉ gồm có lầu Du Cửu, do vua Duy Tân cho xây dựng vào năm 1915 trên nền cũ của lầu Minh Viễn.
Đến năm 1916, vua Khải Định mở rộng thành cung điện và đặt tên là điện Kiến Trung, dùng làm nơi ở và làm việc của vua. Bên trái toà lầu có phòng Đông Cung, bên phải có Võ Hộ Giá phòng. Đến thời vua Bảo Đại, điện Kiến Trung là nơi ăn ở và sinh hoạt của cả gia đình nhà vua, bao gồm hoàng hậu Nam Phương, hoàng thái tử Bảo Long, hoàng tử Bảo Thăng và các hoàng nữ Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung. Trong chiến sự năm 1947, điện đã bị cháy rụi hoàn toàn. Hiện lầu Kiến Trung đang được lên kế hoạch khôi phục.
Wednesday, May 6, 2015
Cửu đỉnh Huế: Bộ sưu tập độc đáo hình ảnh đất nước
Cửu đỉnh Huế - Trong kho tàng văn hóa vật thể của cố đô Huế, Cửu đỉnh là một trong những công trình nghệ thuật đặc sắc nhất, một tượng đài văn hóa Việt.
Ai đã từng tham quan Đại nội Huế, đến trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu (nơi thờ các vua triều Nguyễn) đều không khỏi ngỡ ngàng, thán phục trước 9 chiếc đỉnh đồng đồ sộ, uy nghi như chứng nhân của lịch sử của một vương triều tồn tại 143 năm.
Theo sách “Đại Nam thực lục chính biên”, bộ Cửu đỉnh được vua Minh Mạng cho khởi đúc vào tháng 12/1835 và hoàn thành tháng 6/1837, do những nghệ nhân Phường đúc Huế thực hiện. Tất cả 9 đỉnh đều có hình dáng chung giống nhau, thân bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới có ba chân. Nhưng kích thước và khối lượng (khối lượng các đỉnh được ghi rõ bên trái cổ đỉnh) lại không giống nhau, đỉnh cao nhất (Cao đỉnh) 2,5m, nặng 2.061 kg, đỉnh thấp nhất (Huyền đỉnh) 2,3m, nặng 1.935 kg.
Các cặp quai trên miệng đỉnh không hoàn toàn giống nhau, cặp đúc vuông, cặp đúc tròn, cặp xoắn theo kiểu dây thừng. Chân đỉnh cũng khác nhau, có bộ uốn theo kiểu chân quỳ, có bộ đúc thẳng. Trên mỗi đỉnh đều khắc nổi tên hiệu do vua Minh Mạng đặt, ứng với thụy hiệu các vị vua Nguyễn. Mở đầu là Cao đỉnh tượng trưng cho sự vĩ đại; Nhân (Nhơn đỉnh) là lòng tốt, tượng trưng đức; Chương đỉnh là sự gương mẫu, là ánh sáng; Anh đỉnh là tài giỏi vinh hạnh, hiển đạt; Nghị đỉnh là ý chí kiên cường, cương nghị; Thuần đỉnh là sự hoàn thiện, phong phú; Tuyên đỉnh là sự hài hòa, tinh thông; Dụ đỉnh là nền tảng sự thịnh vượng; Huyền đỉnh, ứng với nơi sâu thẳm.
Sau khi hoàn thành, Cửu đỉnh được đặt thẳng hàng trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu. Riêng Cao đỉnh được đặt ở giữa và lên trước các đỉnh khác 3m, tượng trưng cho Cao Thế tổ Hoàng đế Nguyễn Ánh - người lập nên vương triều Nguyễn.
Có thể nói Cửu đỉnh là tác phẩm nghệ thuật tổng hợp của nhiều lĩnh vực như: kiến trúc, hội họa, lịch sử, địa lý, văn hóa và sự diệu nghệ của kỹ thuật đúc đồng Việt Nam đầu thề kỷ XIX, từ thiết kế, vẽ mẫu, rồi làm phôi khuôn. Người thợ phải làm ra những chiếc khuôn theo kích cỡ, mẫu mã, ký tự, hoa lá, chim muông, cảnh vật… để khi đúc ra các mẫu tạo ấy sẽ được kết dính với nhau một cách tự nhiên, giống như tự thân nó mọc ra vậy. Quả là kỳ công, tỷ mỉ vô cùng.
Bộ Cửu đỉnh không chỉ thể hiện ước nguyện bền vững trường tồn của vương triều Nguyễn như chỉ dụ của vua Minh Mạng: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu… Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc 9 cái đỉnh để ở nhà Thế miếu... Đó là để tỏ ý mong rằng, muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định”.
Cửu đỉnh còn là bộ sưu tập đặc sắc của văn hóa Việt Nam, với 153 hình ảnh tiêu biểu đặc trưng nhưng cũng rất gần gũi thân thuộc của đất nước từ Nam ra Bắc được chạm khắc nổi trên Cửu đỉnh. Tất cả 153 mảng hình trên Cửu đỉnh là những bức chạm độc lập, sống động, tinh xảo, là sự kết hợp điêu luyện giữa nghệ thuật đúc và chạm nổi đồ đồng đạt trình độ tuyệt kỹ của những người thợ đúc đồng Việt Nam.
Quanh hông mỗi đỉnh được bố trí 17 cảnh vật được sắp xếp theo một biểu đồ hợp lý, chia làm ba hàng ngang, mỗi hàng gồm một chủng loại, mỗi hình ảnh đều có ghi tên từng cảnh vật. Đặc biệt Cửu đỉnh là 9 đỉnh, nên các hình ảnh được thể hiện cũng xoay quanh con số 9 đặc trưng như: 9 vì tinh tú và thiên nhiên trong vũ trụ là Mặt trời, Mặt trăng, Gió, Sấm, Mây, Mưa, các sao Ngũ Tinh, Bắc Đẩu, Nam Đẩu; 9 ngọn núi lớn: Thiên Tôn, Ngự Bình, Thương Sơn, Hồng Lĩnh, Tản Viên, Núi Duệ, Đại Lãnh, Hải Vân, Hoành Sơn; 9 sông lớn: sông Hậu, sông Tiền, sông Mã, Bạch Đằng, sông Hồng, sông Hương, sông Gianh, Thạch Hãn, sông Lam.
Cửu đỉnh còn chạm khắc hình 9 cửa biển, cửa quan, biển, cầu vồng; 9 con thú lớn bốn chân; 9 con vật linh; 9 loài chim; 9 loài cây lương thực; 9 loại rau củ; 9 loại hoa; 9 loại cây lấy quả; 9 loại dược liệu quý; 9 loại cây thân gỗ; 9 loại vũ khí; 9 loài cá, ốc, côn trùng; 9 loại thuyền, xe, cờ. Tất cả những số 9 ấy hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên sông núi đất trời Việt Nam thống nhất hoành tráng.
Chiêm ngưỡng Cửu đỉnh Huế, du khách gần xa như được tham quan một bộ sưu tập triển lãm độc đáo những hình ảnh của đất nước một cách đầy đủ và thi vị nhất. Vì thế trải qua gần 200 năm nay, Cửu đỉnh Huế không chỉ được coi là một trong những tuyệt tác của nghệ thuật đúc đồng Việt Nam, mà còn là một di sản văn hóa lịch sử đặc sắc có một không hai của Huế và của Việt Nam.
Ai đã từng tham quan Đại nội Huế, đến trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu (nơi thờ các vua triều Nguyễn) đều không khỏi ngỡ ngàng, thán phục trước 9 chiếc đỉnh đồng đồ sộ, uy nghi như chứng nhân của lịch sử của một vương triều tồn tại 143 năm.
Theo sách “Đại Nam thực lục chính biên”, bộ Cửu đỉnh được vua Minh Mạng cho khởi đúc vào tháng 12/1835 và hoàn thành tháng 6/1837, do những nghệ nhân Phường đúc Huế thực hiện. Tất cả 9 đỉnh đều có hình dáng chung giống nhau, thân bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới có ba chân. Nhưng kích thước và khối lượng (khối lượng các đỉnh được ghi rõ bên trái cổ đỉnh) lại không giống nhau, đỉnh cao nhất (Cao đỉnh) 2,5m, nặng 2.061 kg, đỉnh thấp nhất (Huyền đỉnh) 2,3m, nặng 1.935 kg.
Các cặp quai trên miệng đỉnh không hoàn toàn giống nhau, cặp đúc vuông, cặp đúc tròn, cặp xoắn theo kiểu dây thừng. Chân đỉnh cũng khác nhau, có bộ uốn theo kiểu chân quỳ, có bộ đúc thẳng. Trên mỗi đỉnh đều khắc nổi tên hiệu do vua Minh Mạng đặt, ứng với thụy hiệu các vị vua Nguyễn. Mở đầu là Cao đỉnh tượng trưng cho sự vĩ đại; Nhân (Nhơn đỉnh) là lòng tốt, tượng trưng đức; Chương đỉnh là sự gương mẫu, là ánh sáng; Anh đỉnh là tài giỏi vinh hạnh, hiển đạt; Nghị đỉnh là ý chí kiên cường, cương nghị; Thuần đỉnh là sự hoàn thiện, phong phú; Tuyên đỉnh là sự hài hòa, tinh thông; Dụ đỉnh là nền tảng sự thịnh vượng; Huyền đỉnh, ứng với nơi sâu thẳm.
Sau khi hoàn thành, Cửu đỉnh được đặt thẳng hàng trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu. Riêng Cao đỉnh được đặt ở giữa và lên trước các đỉnh khác 3m, tượng trưng cho Cao Thế tổ Hoàng đế Nguyễn Ánh - người lập nên vương triều Nguyễn.
Có thể nói Cửu đỉnh là tác phẩm nghệ thuật tổng hợp của nhiều lĩnh vực như: kiến trúc, hội họa, lịch sử, địa lý, văn hóa và sự diệu nghệ của kỹ thuật đúc đồng Việt Nam đầu thề kỷ XIX, từ thiết kế, vẽ mẫu, rồi làm phôi khuôn. Người thợ phải làm ra những chiếc khuôn theo kích cỡ, mẫu mã, ký tự, hoa lá, chim muông, cảnh vật… để khi đúc ra các mẫu tạo ấy sẽ được kết dính với nhau một cách tự nhiên, giống như tự thân nó mọc ra vậy. Quả là kỳ công, tỷ mỉ vô cùng.
Bộ Cửu đỉnh không chỉ thể hiện ước nguyện bền vững trường tồn của vương triều Nguyễn như chỉ dụ của vua Minh Mạng: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu… Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc 9 cái đỉnh để ở nhà Thế miếu... Đó là để tỏ ý mong rằng, muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định”.
Cửu đỉnh còn là bộ sưu tập đặc sắc của văn hóa Việt Nam, với 153 hình ảnh tiêu biểu đặc trưng nhưng cũng rất gần gũi thân thuộc của đất nước từ Nam ra Bắc được chạm khắc nổi trên Cửu đỉnh. Tất cả 153 mảng hình trên Cửu đỉnh là những bức chạm độc lập, sống động, tinh xảo, là sự kết hợp điêu luyện giữa nghệ thuật đúc và chạm nổi đồ đồng đạt trình độ tuyệt kỹ của những người thợ đúc đồng Việt Nam.
Quanh hông mỗi đỉnh được bố trí 17 cảnh vật được sắp xếp theo một biểu đồ hợp lý, chia làm ba hàng ngang, mỗi hàng gồm một chủng loại, mỗi hình ảnh đều có ghi tên từng cảnh vật. Đặc biệt Cửu đỉnh là 9 đỉnh, nên các hình ảnh được thể hiện cũng xoay quanh con số 9 đặc trưng như: 9 vì tinh tú và thiên nhiên trong vũ trụ là Mặt trời, Mặt trăng, Gió, Sấm, Mây, Mưa, các sao Ngũ Tinh, Bắc Đẩu, Nam Đẩu; 9 ngọn núi lớn: Thiên Tôn, Ngự Bình, Thương Sơn, Hồng Lĩnh, Tản Viên, Núi Duệ, Đại Lãnh, Hải Vân, Hoành Sơn; 9 sông lớn: sông Hậu, sông Tiền, sông Mã, Bạch Đằng, sông Hồng, sông Hương, sông Gianh, Thạch Hãn, sông Lam.
Cửu đỉnh còn chạm khắc hình 9 cửa biển, cửa quan, biển, cầu vồng; 9 con thú lớn bốn chân; 9 con vật linh; 9 loài chim; 9 loài cây lương thực; 9 loại rau củ; 9 loại hoa; 9 loại cây lấy quả; 9 loại dược liệu quý; 9 loại cây thân gỗ; 9 loại vũ khí; 9 loài cá, ốc, côn trùng; 9 loại thuyền, xe, cờ. Tất cả những số 9 ấy hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên sông núi đất trời Việt Nam thống nhất hoành tráng.
Chiêm ngưỡng Cửu đỉnh Huế, du khách gần xa như được tham quan một bộ sưu tập triển lãm độc đáo những hình ảnh của đất nước một cách đầy đủ và thi vị nhất. Vì thế trải qua gần 200 năm nay, Cửu đỉnh Huế không chỉ được coi là một trong những tuyệt tác của nghệ thuật đúc đồng Việt Nam, mà còn là một di sản văn hóa lịch sử đặc sắc có một không hai của Huế và của Việt Nam.
Tuesday, May 5, 2015
Chùa Thiên Mụ
Du Lịch Huế - Chùa nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long.
Tên của ngôi chùa bắt nguồn từ một huyền thoại. Chuyện kể rằng từ xa xưa, dân địa phương đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên ngọn đồi nơi chùa toạ lạc ngày nay, và nói: rồi sẽ có chân chúa đến lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch. Hễ nói xong là bà biến mất.
Sau khi vào trấn Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng một lần đi qua, nghe kể chuyện đã cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ Tự. Chùa nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long.

Năm 1601 chùa được xây dựng. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5m nặng 3285 kg, và năm 1715, chúa lại cho xây dựng tấm bia cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch. Vào thời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trùng tu chùa. Tháp Phước Duyên (ban đầu được đặt tên là tháp Từ Nhân) được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21 m). Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga.
Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói còn treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng năm 1714. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa.
Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi, rực rỡ. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch, phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.

Ngày nay chùa vẫn được tiếp tục chỉnh trang ngày càng huy hoàng, tráng lệ, luôn hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách gần xa.
Tên của ngôi chùa bắt nguồn từ một huyền thoại. Chuyện kể rằng từ xa xưa, dân địa phương đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên ngọn đồi nơi chùa toạ lạc ngày nay, và nói: rồi sẽ có chân chúa đến lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch. Hễ nói xong là bà biến mất.
Sau khi vào trấn Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng một lần đi qua, nghe kể chuyện đã cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ Tự. Chùa nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long.
Năm 1601 chùa được xây dựng. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5m nặng 3285 kg, và năm 1715, chúa lại cho xây dựng tấm bia cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch. Vào thời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trùng tu chùa. Tháp Phước Duyên (ban đầu được đặt tên là tháp Từ Nhân) được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21 m). Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga.
Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói còn treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng năm 1714. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa.
Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi, rực rỡ. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch, phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.
Ngày nay chùa vẫn được tiếp tục chỉnh trang ngày càng huy hoàng, tráng lệ, luôn hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách gần xa.
Sunday, May 3, 2015
Định Huệ tự - ngôi chùa trên thượng nguồn sông Hương
Du Lịch Huế - "Chùa Định Huệ tọa lạc tại trên thượng nguồn sông Hương thuộc thôn Lương Miêu xã Dương Hòa, huỵện Hương Thủy nên còn gọi là chùa Lương Miêu. Muốn đến thăm chùa, có hai con đường, đường bộ theo đường Dạ Lê hoặc đường Tuần lên, nhưng thuận tiện hơn cả là đi thuyền trên sông Hương vì như thế vừa được tham quan sông Hương ngắm cảnh quan kỳ tú vừa mát mẻ mà lại khỏe người hơn.."
Từ sau năm 1975, thời kỳ mà cả nước đang gặp nhiều khó khăn, các chùa ở Huế phải đi làm ruộng, làm nương, có chùa thì đi mót khoai mót sắn từ các cánh đồng về để độ nhật. Trong tình hình đó ở Huế có một sư cô một thân một mình vượt núi trèo non lên tận thôn Lương Miêu nơi thượng nguồn sông Hương để khai hoang làm rẩy, lập thất, dựng tượng vừa tu trì vừa lao động độ sinh.
Chúng tôi ngược dòng sông Hương trên con đò vào một chiều hè Huế nắng nóng như đổ lửa. Lần lượt, đi qua rất nhiều những danh lam thắng cảnh chùa Thiên Mụ uy nghi, điện Hòn Chén linh thiêng, Văn Thánh cổ kính, đồi Vọng Cảnh thông reo, Núi Tứ Tượng với tượng Đài Bồ Tát Quán Thế Âm trắng giữa mây ngàn, cầu Tuần vắt ngang giữa trời xanh... Đò đến thôn Bằng Lãng đoạn sông hai nhánh thì rẽ theo dòng Hữu trạch hướng đi Tuần giữa những làng quê thôn dã và núi non trùng điệp, hai bên bờ có rất nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng dân gian như đình, chùa, am, miếu... một số nơi người ta còn cúng bái rình rang. Đây cũng là một yếu tố để người Huế gọi sông Hương là dòng sông tâm linh.
Đi được khoảng gần 3 giờ đồng hồ thì đò qua khỏi thôn Tân Ba và Dương Hòa - chiến khu xưa một thời đạn bom cày xới, người chủ đò chở chúng tôi phải khó khăn lắm mới điều khiển con đò len lỏi vượt qua những khúc sông cạn nhìn thấy đáy và giữa dòng có nhiều cồn cỏ dại, chia dòng nước chảy ra hai phía ven bờ. Để sau hơn 3 giờ đồng hồ ngược dòng sông Hương, chiếc đò mới rẽ lái cập bờ. Chúng tôi được hướng dẫn vượt qua một dải đất phù sa và leo lên một con dốc thoai thoải hai bên đầy những tre nứa và cây rừng, vừa lên khỏi dốc, một chiếc cổng tam quan nhỏ nhắn xinh xắn hiện ra dưới cái nắng chiều vàng chiếu lên 3 chữ Hán "Định Huệ Tự" (chùa Định Huệ). Và trong không gian núi rừng có tiếng mõ vang vọng theo gió chiều hiu hiu khiến cho chúng tôi như vỡ òa lên với bao niềm xúc động "trời ơi, giữa chốn núi rừng hiu quạnh thế nầy mà có ai đến dựng chùa thờ Phật gõ mõ tụng kinh". Theo con đường đất quanh co đi qua một chiếc cổng phụ vào một khu vườn, ngôi chánh điện chùa Định Huệ thấp thoáng hiện ra dưới những tán cây rừng rậm rạp.
Tôi đi ngay vào chánh điện, nơi có tiếng mõ đang vọng ra, một vị Ni sư già dáng người gầy dừng mõ quay sang tôi nở nụ cười hiền hòa và vái chào thân thiện. Thoạt nhìn vị Ni sư rất tội ghiệp, và thiệt thà như chính những người ở rừng đúng nghĩa. Sau khi thăm hỏi sơ qua, tôi theo Ni sư xuống nhà Tăng và cùng chào mọi người. Với tính hài hước Ni sư chuyện trò và tự giới thiệu Ni sư pháp hiệu là Thích Nữ Minh Tâm, năm nay nữa là đã hưởng được 70 mùa xuân. Ni sư vốn quê ở huyện Hải Lăng, Quảng Trị bởi cảm mến cảnh thiền môn nên đã vào Huế nhập chúng tu học và hành đạo tại tịnh thất Hoàng Mai... Và chúng tôi rất ấn tượng bởi giọng nói ào ào như đàn ông "thưa quý vị kiếp trước tui là đàn ông, nhưng do vụng tu nên kiếp ni phải bị đọa làm đàn bà nhưng dư báo vẫn còn nên tui vẫn có lối sống và cách nói năng đi đứng như đàn ông và bị 'đày' lên đây một thân một mình cùng gió núi mây ngàn heo hút". Ni sự vừa cười vừa nói với mọi người.
Ni sư cho biết, sau năm 1975 núi rừng nơi đây hoang vu dữ dằn lắm không như bây giờ đâu, một thân một mình ngày đêm cày xới hơn 2 hetca đất rừng để trồng trọt làm nương làm rẫy. Mà quý vị biết rồi, đến vùng đất lạ dẫu có mạnh mẻ đến mấy nhưng cũng có lúc phải run sợ trước những hiện tượng tự nhiên huống chi "đến đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vẫy vùng cũng run". Đã rứa, buổi đầu thì có chi mô, một cái lều tranh tạm bợ, đêm hôm nghe sột soạt bên ngoài cũng thấy lo, lâu dần mới thành quen, và hình như Hộ pháp, Long thiên, và sơn thần thổ địa ở đây cũng ủng hộ nên đã che chở không cho tui thấy điều gì đáng sợ và cũng không có hiện tượng ma quỷ hay thú dữ nào đến quấy phá.
Nghe Ni sư kể, chúng tôi đồng thời liên tưởng đến hình ảnh một vị sư cô chỉ mới vừa hơn 30 tuổi thôi mà đã dám một thân một mình đến giữa chốn núi rừng hoang vu nầy khai sơn lập tự mà tâm phục khẩu phục. Không tâm phục khẩu phục sao được khi mà mãi cho đến hôm nay, khi cơ ngơi đã lên hình lên dạng, chùa chiền tăng xá đã khá kiên cố, đời sống kinh tế cũng tạm ổn nhưng chẳng có ai dám đến đây để đồng tu với Ni sư. "Họ sợ lắm, chốn núi rừng khỉ ho cò gáy, không trường không lớp ai mà lên" Ni sư nói. Hiện có một ni cô vừa được Ni sư về mượn dưới chùa phố lên để "có chúng mà an cư" nhìn có vẻ hơi buồn nhưng bước đầu cũng đã thích nghi.
Ngôi chùa Định Huệ bây giờ được Ni sư cho xây dựng vào năm Bính Tuất (2006) tuy khiêm tốn, nhỏ nhoi chỉ khoảng chừng 200m2 nằm lọt thỏm giữa núi rừng đại ngàn nhưng như thế cũng đã là khá khang trang lắm rồi. Giữa chốn thâm sơn cùng cốc nơi thượng nguồn sông Hương nầy mà làm được như thế là đã ngoài sức tưởng tượng lắm rồi huống hồ chi nguồn kinh phí để xây dựng chùa nhờ vào sự chắt góp được từ bán những trái mít, những trái vả hay những lứa bạch đàn thì quả là quá thần kỳ, thi thoảng lắm mới có một vài Phật tử quen biết tìm lên thăm chùa, thăm Ni sư cúng dường một ít tịnh tài tịnh vật.
Ni sư đãi chúng tôi bằng những chén nước lá thơm nức mùi hương hoa rừng, những múi mít vừa hái xuống còn ngấn những giọt mật đường ngọt lịm và những tô mì ăn liền với rau rừng, những chén cơm nguội và nước tương nguyên chất đạm bạc nhưng sao thấy ngấm nặng tình đạo vô cùng.
Chào Ni sư, chào ngôi chùa Định Huệ trên thượng nguồn để xuôi theo dòng nước sông Hương thâm thẩm tối để ra về mà lòng nghe nặng một nỗi niềm cảm khái khôn nguôi...
Từ sau năm 1975, thời kỳ mà cả nước đang gặp nhiều khó khăn, các chùa ở Huế phải đi làm ruộng, làm nương, có chùa thì đi mót khoai mót sắn từ các cánh đồng về để độ nhật. Trong tình hình đó ở Huế có một sư cô một thân một mình vượt núi trèo non lên tận thôn Lương Miêu nơi thượng nguồn sông Hương để khai hoang làm rẩy, lập thất, dựng tượng vừa tu trì vừa lao động độ sinh.
Chúng tôi ngược dòng sông Hương trên con đò vào một chiều hè Huế nắng nóng như đổ lửa. Lần lượt, đi qua rất nhiều những danh lam thắng cảnh chùa Thiên Mụ uy nghi, điện Hòn Chén linh thiêng, Văn Thánh cổ kính, đồi Vọng Cảnh thông reo, Núi Tứ Tượng với tượng Đài Bồ Tát Quán Thế Âm trắng giữa mây ngàn, cầu Tuần vắt ngang giữa trời xanh... Đò đến thôn Bằng Lãng đoạn sông hai nhánh thì rẽ theo dòng Hữu trạch hướng đi Tuần giữa những làng quê thôn dã và núi non trùng điệp, hai bên bờ có rất nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng dân gian như đình, chùa, am, miếu... một số nơi người ta còn cúng bái rình rang. Đây cũng là một yếu tố để người Huế gọi sông Hương là dòng sông tâm linh.
Đi được khoảng gần 3 giờ đồng hồ thì đò qua khỏi thôn Tân Ba và Dương Hòa - chiến khu xưa một thời đạn bom cày xới, người chủ đò chở chúng tôi phải khó khăn lắm mới điều khiển con đò len lỏi vượt qua những khúc sông cạn nhìn thấy đáy và giữa dòng có nhiều cồn cỏ dại, chia dòng nước chảy ra hai phía ven bờ. Để sau hơn 3 giờ đồng hồ ngược dòng sông Hương, chiếc đò mới rẽ lái cập bờ. Chúng tôi được hướng dẫn vượt qua một dải đất phù sa và leo lên một con dốc thoai thoải hai bên đầy những tre nứa và cây rừng, vừa lên khỏi dốc, một chiếc cổng tam quan nhỏ nhắn xinh xắn hiện ra dưới cái nắng chiều vàng chiếu lên 3 chữ Hán "Định Huệ Tự" (chùa Định Huệ). Và trong không gian núi rừng có tiếng mõ vang vọng theo gió chiều hiu hiu khiến cho chúng tôi như vỡ òa lên với bao niềm xúc động "trời ơi, giữa chốn núi rừng hiu quạnh thế nầy mà có ai đến dựng chùa thờ Phật gõ mõ tụng kinh". Theo con đường đất quanh co đi qua một chiếc cổng phụ vào một khu vườn, ngôi chánh điện chùa Định Huệ thấp thoáng hiện ra dưới những tán cây rừng rậm rạp.
Tôi đi ngay vào chánh điện, nơi có tiếng mõ đang vọng ra, một vị Ni sư già dáng người gầy dừng mõ quay sang tôi nở nụ cười hiền hòa và vái chào thân thiện. Thoạt nhìn vị Ni sư rất tội ghiệp, và thiệt thà như chính những người ở rừng đúng nghĩa. Sau khi thăm hỏi sơ qua, tôi theo Ni sư xuống nhà Tăng và cùng chào mọi người. Với tính hài hước Ni sư chuyện trò và tự giới thiệu Ni sư pháp hiệu là Thích Nữ Minh Tâm, năm nay nữa là đã hưởng được 70 mùa xuân. Ni sư vốn quê ở huyện Hải Lăng, Quảng Trị bởi cảm mến cảnh thiền môn nên đã vào Huế nhập chúng tu học và hành đạo tại tịnh thất Hoàng Mai... Và chúng tôi rất ấn tượng bởi giọng nói ào ào như đàn ông "thưa quý vị kiếp trước tui là đàn ông, nhưng do vụng tu nên kiếp ni phải bị đọa làm đàn bà nhưng dư báo vẫn còn nên tui vẫn có lối sống và cách nói năng đi đứng như đàn ông và bị 'đày' lên đây một thân một mình cùng gió núi mây ngàn heo hút". Ni sự vừa cười vừa nói với mọi người.
Ni sư cho biết, sau năm 1975 núi rừng nơi đây hoang vu dữ dằn lắm không như bây giờ đâu, một thân một mình ngày đêm cày xới hơn 2 hetca đất rừng để trồng trọt làm nương làm rẫy. Mà quý vị biết rồi, đến vùng đất lạ dẫu có mạnh mẻ đến mấy nhưng cũng có lúc phải run sợ trước những hiện tượng tự nhiên huống chi "đến đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vẫy vùng cũng run". Đã rứa, buổi đầu thì có chi mô, một cái lều tranh tạm bợ, đêm hôm nghe sột soạt bên ngoài cũng thấy lo, lâu dần mới thành quen, và hình như Hộ pháp, Long thiên, và sơn thần thổ địa ở đây cũng ủng hộ nên đã che chở không cho tui thấy điều gì đáng sợ và cũng không có hiện tượng ma quỷ hay thú dữ nào đến quấy phá.
Nghe Ni sư kể, chúng tôi đồng thời liên tưởng đến hình ảnh một vị sư cô chỉ mới vừa hơn 30 tuổi thôi mà đã dám một thân một mình đến giữa chốn núi rừng hoang vu nầy khai sơn lập tự mà tâm phục khẩu phục. Không tâm phục khẩu phục sao được khi mà mãi cho đến hôm nay, khi cơ ngơi đã lên hình lên dạng, chùa chiền tăng xá đã khá kiên cố, đời sống kinh tế cũng tạm ổn nhưng chẳng có ai dám đến đây để đồng tu với Ni sư. "Họ sợ lắm, chốn núi rừng khỉ ho cò gáy, không trường không lớp ai mà lên" Ni sư nói. Hiện có một ni cô vừa được Ni sư về mượn dưới chùa phố lên để "có chúng mà an cư" nhìn có vẻ hơi buồn nhưng bước đầu cũng đã thích nghi.
Ngôi chùa Định Huệ bây giờ được Ni sư cho xây dựng vào năm Bính Tuất (2006) tuy khiêm tốn, nhỏ nhoi chỉ khoảng chừng 200m2 nằm lọt thỏm giữa núi rừng đại ngàn nhưng như thế cũng đã là khá khang trang lắm rồi. Giữa chốn thâm sơn cùng cốc nơi thượng nguồn sông Hương nầy mà làm được như thế là đã ngoài sức tưởng tượng lắm rồi huống hồ chi nguồn kinh phí để xây dựng chùa nhờ vào sự chắt góp được từ bán những trái mít, những trái vả hay những lứa bạch đàn thì quả là quá thần kỳ, thi thoảng lắm mới có một vài Phật tử quen biết tìm lên thăm chùa, thăm Ni sư cúng dường một ít tịnh tài tịnh vật.
Ni sư đãi chúng tôi bằng những chén nước lá thơm nức mùi hương hoa rừng, những múi mít vừa hái xuống còn ngấn những giọt mật đường ngọt lịm và những tô mì ăn liền với rau rừng, những chén cơm nguội và nước tương nguyên chất đạm bạc nhưng sao thấy ngấm nặng tình đạo vô cùng.
Chào Ni sư, chào ngôi chùa Định Huệ trên thượng nguồn để xuôi theo dòng nước sông Hương thâm thẩm tối để ra về mà lòng nghe nặng một nỗi niềm cảm khái khôn nguôi...
Hàm Rồng - một bãi biển đẹp của Huế
Du Lịch Huế - Chưa có “thương hiệu” như biển Lăng Cô, Cảnh Dương, Thuận An, nhưng có thể nói bãi biển Hàm Rồng nằm bên kia phá Tam Giang - Cầu Hai thuộc xã Vinh Hiền (Phú Lộc) là một địa chỉ mà nếu du khách đã một lần đến đều mong có dịp trở lại..
Trước đây về biển Hàm Rồng khá cách trở nhưng nay chuyện ấy không còn, bởi hệ thống giao thông đã thoáng rộng, thông suốt. Bây giờ, vềbiển Hàm Rồng có thể theo hai ngả. Qua hết cầu Trường Hà (Phú Vang) xuôi về khoảng 30 phút nếu ngồi trên ô tô, hoặc xe máy; hay từ trung tâm huyện Phú Lộc hướng về phía đông qua cầu Vinh Hiền rẽ trái khoảng hơn 2 cây số theo đường nhựa phẳng lì. Hàm Rồng ở một vị trí khá đẹp, cảnh quan nên thơ bởi có núi Linh Thái cao gần 800 mét án ngữ phía sau với những mảng rừng xanh thẳm, uốn lượn theo nhiều vòng cung ôm lấy bãi biển dài gần 6 cây số, với 3 điểm tắm lý tưởng là bãi Hàm Rồng, Đông Dương và bãi Đầm.

Biển Hàm Rồng lúc nào cũng đẹp như bức tranh thủy mạc. Một không gian biển không ồ ã, xô bồ; mặt nước biển lúc nào cũng trong xanh, lại điểm xuyết những quần thể đá lớn nhỏ sắp xếp chồng lên nhau tạo những hang đá đẹp. Chính yếu tố này đã gợi cho những khách có tính tò mò, thích khám phá thiên nhiên nơi đây. Từ bờ lội ra khoảng 10-15 mét, khách có thể chọn độ sâu của biển thích hợp để ngâm tắm, thỏa sức vùng vẩy cùng con sóng vỗ để xua đi bao mệt nhọc của công việc thường nhật. Hoặc có thể ngồi trên bờ gần mặt biển để nhìn sóng gợn, nghe tiếng gió biển cùng tiếng reo của lá cây từ những rừng phi lao phía sau tạo nên một sự cộng hưởng của âm thanh hiền hòa, hoang dã.
Gần đây chính quyền địa phương ở đây đã quan tâm nhiều đến biển Hàm Rồng. Theo quan sát của cá nhân chúng tôi cảnh quan môi trường và con đường từ trung tâm nối ra biển và các tuyến ven biển rợp bóng dương đã thông thoáng, sạch sẽ; công tác an ninh, an toàn ở khu vực biển, bãi tắm được chú trọng do công an viên thôn, xã quản lý; nhiều dịch vụ phục vụ khách ở biển Hàm Rồng được nâng cấp, đầu tư, như nhà trọ nghỉ qua đêm, hàng quán ẩm thực với các món ăn đặc sản biển ở địa phương bình dân. Anh Hồ Xuân Thọ-một người đã mở hàng ăn phục vụ du khách ở biển Hàm Rồng hơn 20 năm qua cho rằng, tất cả các chủ quán kinh doanh ở đây đều lấy chữ tín làm trọng. Mọi thứ phục vụ cho khách đều lấy công làm lời. Vì thế khách bình dân có thể chọn biển Hàm Rồng để thăm tắm, nghỉ dưỡng vào dịp hè.
Trước đây về biển Hàm Rồng khá cách trở nhưng nay chuyện ấy không còn, bởi hệ thống giao thông đã thoáng rộng, thông suốt. Bây giờ, vềbiển Hàm Rồng có thể theo hai ngả. Qua hết cầu Trường Hà (Phú Vang) xuôi về khoảng 30 phút nếu ngồi trên ô tô, hoặc xe máy; hay từ trung tâm huyện Phú Lộc hướng về phía đông qua cầu Vinh Hiền rẽ trái khoảng hơn 2 cây số theo đường nhựa phẳng lì. Hàm Rồng ở một vị trí khá đẹp, cảnh quan nên thơ bởi có núi Linh Thái cao gần 800 mét án ngữ phía sau với những mảng rừng xanh thẳm, uốn lượn theo nhiều vòng cung ôm lấy bãi biển dài gần 6 cây số, với 3 điểm tắm lý tưởng là bãi Hàm Rồng, Đông Dương và bãi Đầm.
Biển Hàm Rồng lúc nào cũng đẹp như bức tranh thủy mạc. Một không gian biển không ồ ã, xô bồ; mặt nước biển lúc nào cũng trong xanh, lại điểm xuyết những quần thể đá lớn nhỏ sắp xếp chồng lên nhau tạo những hang đá đẹp. Chính yếu tố này đã gợi cho những khách có tính tò mò, thích khám phá thiên nhiên nơi đây. Từ bờ lội ra khoảng 10-15 mét, khách có thể chọn độ sâu của biển thích hợp để ngâm tắm, thỏa sức vùng vẩy cùng con sóng vỗ để xua đi bao mệt nhọc của công việc thường nhật. Hoặc có thể ngồi trên bờ gần mặt biển để nhìn sóng gợn, nghe tiếng gió biển cùng tiếng reo của lá cây từ những rừng phi lao phía sau tạo nên một sự cộng hưởng của âm thanh hiền hòa, hoang dã.
Gần đây chính quyền địa phương ở đây đã quan tâm nhiều đến biển Hàm Rồng. Theo quan sát của cá nhân chúng tôi cảnh quan môi trường và con đường từ trung tâm nối ra biển và các tuyến ven biển rợp bóng dương đã thông thoáng, sạch sẽ; công tác an ninh, an toàn ở khu vực biển, bãi tắm được chú trọng do công an viên thôn, xã quản lý; nhiều dịch vụ phục vụ khách ở biển Hàm Rồng được nâng cấp, đầu tư, như nhà trọ nghỉ qua đêm, hàng quán ẩm thực với các món ăn đặc sản biển ở địa phương bình dân. Anh Hồ Xuân Thọ-một người đã mở hàng ăn phục vụ du khách ở biển Hàm Rồng hơn 20 năm qua cho rằng, tất cả các chủ quán kinh doanh ở đây đều lấy chữ tín làm trọng. Mọi thứ phục vụ cho khách đều lấy công làm lời. Vì thế khách bình dân có thể chọn biển Hàm Rồng để thăm tắm, nghỉ dưỡng vào dịp hè.
Saturday, May 2, 2015
Chuyện kể ở làng cổ Phước Tích
Du Lịch Huế - Làng cổ Phước Tích thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế luôn quyến rũ du khách với quần thể phong cảnh nhà vườn xanh mát. Cây thị gần cả ngàn năm tuổi tỏa bóng bên ngôi miếu cổ là một phần hồn vía của làng với nhiều mẩu chuyện thú vị về những di chỉ Chăm.

Góc miếu Cây Thị - hồn vía của làng cổ Phước Tích
Chuyện về Yoni, miếu Bà Giằng, chuyện bến Cây Bàng bên dòng Ô lâu với trụ đá và tấm bia hình vòm cuốn bằng chất liệu đá sa thạch mà người Chăm đã để lại như một minh chứng về sự trường tồn nền văn hóa độc sắc của họ. Chuyện về sự "truy tìm” Linga để rồi chỉ nhầm vào viên đá neo đò suýt nữa một tờ báo uy tín đưa tin... Tất cả vẫn chưa hẳn để lại dấu ấn sâu đậm nếu ai đó chưa từng ngủ nhờ tại một ngôi nhà cổ nào đó trong làng...

Yoni - dấu tích Chăm còn đó
Nhưng. Điều dễ nhận thấy khi du khách tới đây, là sự thưa vắng con người. Cuốn sách "Từ Kẻ Đôộc đến Phước Tích, chân dung ngôi làng gốm cổ bên dòng Ô lâu” đã thống kê việc đáng "báo động” như sau: "Ngôi làng có lúc lên đến gần 2.000 người này đã không ngừng giảm về qui mô dân số, với khoảng 600 người vào những năm 1980, 450 người (năm 2003) và đến nay (2010) chỉ còn 320 người. Đặc biệt là trong số đó, lại có đến trên dưới 40% là người già”. Rất nhiều ngôi nhà rường mấy trăm tuổi, chủ của nó chỉ là các mệ, sống lặng lẽ như cái bóng, như những linh hồn của chính nó.
Một trong những ngôi nhà rường quý, "thiếu” người ở
Tôi từng đến và ở lại nơi đây nhiều ngày. Thơ thẩn dạo quanh ngôi làng có diện tích khoảng một cây số vuông này, chỉ toàn gặp người già. Trung niên, thanh niên vắng, trẻ nít càng hiếm. Đa số đã vào Nam lập nghiệp. Rất nhiều khu vườn rộng thênh, chỉ ngôi nhà chính giữa bỏ hoang. Ăn nên làm ra, những người sống xa quê, thật may là họ không bán đất ở làng. Một bác biền biệt mấy chục năm, nay trở về tính mua lại mảnh đất của làng song không có. Đây là điều mừng. Nếu đất được các gia chủ bán, sẽ manh mún, và đương nhiên những chủ mới họ xây nhà mới; nhà mới lổn nhổn đan xen nhà rường, tường bê tông bao đan xen những hàng chè tàu xanh, ngôi làng sẽ mất đi dáng cổ.

Một sản phẩm gốm hiện đại ở làng gốm cổ Phước Tích
Từ sự lựa chọn nghề gốm làm cứu cánh sinh tồn từ lúc mới hình thành, nay nghề thủ công đã bị lay gốc trước sức ép thị trường. Cách vài ba năm trở lại đây, làng được đầu tư một lò nung gốm hiện đại, sản phẩm cũng theo mẫu hiện đại nên không bán được bao nhiêu. Người dân đặc biệt lớp thanh niên tạm rời làng phiêu tán kiếm kế sinh nhai. Trong làng chỉ vài ba cụ già còn nắm vững và thực hành được quy trình nặn gốm thủ công. Hiện tổ chức Jica Nhật Bản muốn hồi phục đồ gốm đất nung, việc đào tạo lớp trẻ thành nhân công đang là mục tiêu chính, song cũng không dễ dàng. Và, biết bao giờ sẽ tạo được sản phẩm gốm nổi tiếng Om Ngự như đã từng được sử ngợi ca khi chép về xứ Kẻ Đôộc này?

Cây vả từng là một sản phẩm kinh tế chủ đạo
Những ngôi nhà mới cũng đã nhiều hơn. Cây vả vốn là sản phẩm kinh tế gia đình, nay rẻ rúng và được chủ vườn "lược” đi khá nhiều. Những mệ già, họ không biết làm gì nên còn vun xới từng gốc vả, lâu lâu hái mớ bưng ra chợ đắp đổi ít nhiều.
Mấy năm trước đặt chân trên con đường đất bao quanh làng Phước Tích mát rượi; lang thang thăm thú, tôi như được sống ở chính nông thôn quê mình hồi chưa rời đồng ruộng rửa chân lên phố. Nay thì con đường chính này đã được lát gạch, giữa lòng màu đỏ sậm; thiết nghĩ cũng phải thêm dăm năm nữa, khi thứ gạch này cũ đi và loang rêu, nó mới hợp với phong cách của một ngôi làng cổ.
Góc miếu Cây Thị - hồn vía của làng cổ Phước Tích
Chuyện về Yoni, miếu Bà Giằng, chuyện bến Cây Bàng bên dòng Ô lâu với trụ đá và tấm bia hình vòm cuốn bằng chất liệu đá sa thạch mà người Chăm đã để lại như một minh chứng về sự trường tồn nền văn hóa độc sắc của họ. Chuyện về sự "truy tìm” Linga để rồi chỉ nhầm vào viên đá neo đò suýt nữa một tờ báo uy tín đưa tin... Tất cả vẫn chưa hẳn để lại dấu ấn sâu đậm nếu ai đó chưa từng ngủ nhờ tại một ngôi nhà cổ nào đó trong làng...
Yoni - dấu tích Chăm còn đó
Nhưng. Điều dễ nhận thấy khi du khách tới đây, là sự thưa vắng con người. Cuốn sách "Từ Kẻ Đôộc đến Phước Tích, chân dung ngôi làng gốm cổ bên dòng Ô lâu” đã thống kê việc đáng "báo động” như sau: "Ngôi làng có lúc lên đến gần 2.000 người này đã không ngừng giảm về qui mô dân số, với khoảng 600 người vào những năm 1980, 450 người (năm 2003) và đến nay (2010) chỉ còn 320 người. Đặc biệt là trong số đó, lại có đến trên dưới 40% là người già”. Rất nhiều ngôi nhà rường mấy trăm tuổi, chủ của nó chỉ là các mệ, sống lặng lẽ như cái bóng, như những linh hồn của chính nó.
Một trong những ngôi nhà rường quý, "thiếu” người ở
Tôi từng đến và ở lại nơi đây nhiều ngày. Thơ thẩn dạo quanh ngôi làng có diện tích khoảng một cây số vuông này, chỉ toàn gặp người già. Trung niên, thanh niên vắng, trẻ nít càng hiếm. Đa số đã vào Nam lập nghiệp. Rất nhiều khu vườn rộng thênh, chỉ ngôi nhà chính giữa bỏ hoang. Ăn nên làm ra, những người sống xa quê, thật may là họ không bán đất ở làng. Một bác biền biệt mấy chục năm, nay trở về tính mua lại mảnh đất của làng song không có. Đây là điều mừng. Nếu đất được các gia chủ bán, sẽ manh mún, và đương nhiên những chủ mới họ xây nhà mới; nhà mới lổn nhổn đan xen nhà rường, tường bê tông bao đan xen những hàng chè tàu xanh, ngôi làng sẽ mất đi dáng cổ.
Một sản phẩm gốm hiện đại ở làng gốm cổ Phước Tích
Từ sự lựa chọn nghề gốm làm cứu cánh sinh tồn từ lúc mới hình thành, nay nghề thủ công đã bị lay gốc trước sức ép thị trường. Cách vài ba năm trở lại đây, làng được đầu tư một lò nung gốm hiện đại, sản phẩm cũng theo mẫu hiện đại nên không bán được bao nhiêu. Người dân đặc biệt lớp thanh niên tạm rời làng phiêu tán kiếm kế sinh nhai. Trong làng chỉ vài ba cụ già còn nắm vững và thực hành được quy trình nặn gốm thủ công. Hiện tổ chức Jica Nhật Bản muốn hồi phục đồ gốm đất nung, việc đào tạo lớp trẻ thành nhân công đang là mục tiêu chính, song cũng không dễ dàng. Và, biết bao giờ sẽ tạo được sản phẩm gốm nổi tiếng Om Ngự như đã từng được sử ngợi ca khi chép về xứ Kẻ Đôộc này?
Cây vả từng là một sản phẩm kinh tế chủ đạo
Những ngôi nhà mới cũng đã nhiều hơn. Cây vả vốn là sản phẩm kinh tế gia đình, nay rẻ rúng và được chủ vườn "lược” đi khá nhiều. Những mệ già, họ không biết làm gì nên còn vun xới từng gốc vả, lâu lâu hái mớ bưng ra chợ đắp đổi ít nhiều.
Mấy năm trước đặt chân trên con đường đất bao quanh làng Phước Tích mát rượi; lang thang thăm thú, tôi như được sống ở chính nông thôn quê mình hồi chưa rời đồng ruộng rửa chân lên phố. Nay thì con đường chính này đã được lát gạch, giữa lòng màu đỏ sậm; thiết nghĩ cũng phải thêm dăm năm nữa, khi thứ gạch này cũ đi và loang rêu, nó mới hợp với phong cách của một ngôi làng cổ.
Võ Thánh
Du Lịch Huế - Sau khi xây Văn Miếu tại kinh đô Huế vào năm Gia Long thứ 9 (1808), các tỉnh trong khắp đất nước lần lượt xây dựng Văn Miếu tại địa phương.
Việc lập Văn Miếu cho thấy triều đình trọng Nho học và đề cao việc giáo dục. Tuy dựa trên nền tảng Nho học nhưng võ bị dưới thời Nguyễn cũng chiếm một vai trò khá quan trọng. Vì thế, vào năm 1835 dưới thời Minh Mạng, theo kiến nghị của Bộ Lễ, triều đình chuẩn y cho xây dựng Võ Miếu nhằm thể hiện sự chú trọng đến giáo dục quân sự và đề cao nghiệp võ. Theo vua Minh Mạng: “Điều cốt yếu trong việc trị nước phải gồm có cả văn lẫn võ, không thể thiên về một bên. Việc xây dựng Võ Miếu là việc nên làm... Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đời nào cũng có người tài giỏi binh cơ mưu lược, huống chi triều đình ta từ lúc khai quốc cho đến giai đoạn Trung hưng, nhiều người ra mưu giúp nước, công lao rực rỡ không kém gì người xưa, cần biểu dương để khuyến khích nhân tài...”.

Võ Miếu được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương. Với chu vi khoảng 400m, cấu trúc Võ Miếu cũng không cầu kỳ, gồm một miếu chính theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, phía trước có xây 2 nhà phụ gọi là Tả Vu và Hữu Vu đối diện nhau. Chung quanh có xây thành bao bọc, phía ngoài thành có nhà Tể sinh - là nơi giết súc vật khi tổ chức cúng tế. Năm 1839 (Minh Mạng thứ 20), triều đình cho dựng ba tấm bia Võ Công ở trước sân Võ Miếu. Những tấm bia này ghi tên những danh tướng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai triều vua Gia Long và Minh Mạng như: Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Nguyễn Xuân, Phạm Văn Điển... Về sau, còn có hai tấm bia ghi tên những Tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới thời Tự Đức: 1. Khoa Ất Sửu (1865) 2. Khoa Mậu Thìn (1868) 3. Khoa Kỷ Tỵ (1869). Bên cạnh một số danh tướng Việt Nam như: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội..., trong miếu còn có bài vị thờ các danh tướng của Trung Quốc như: Hàn Tín, Trương Lương, Gia Cát Lượng... Việc tế lễ ở Võ Miếu được tổ chức một năm 2 lần vào mùa thu và mùa xuân. Phẩm vật cúng tế có những quy định riêng. Tuy nhiên, về sau phẩm vật có thay đổi (tùy theo quy định của từng triều vua) nhưng chủ yếu vẫn là tam sinh (trâu, heo, dê) và hương hoa, quả phẩm. Về hình thức, việc lập Võ Miếu nhằm tạo ra một sự đăng đối so với Văn Miếu.
Song thực tế, Võ Miếu không có vai trò quan trọng như Văn Miếu. Nho giáo hay chính xác là Nho học là hệ tư tưởng quán xuyến toàn bộ nền tảng chính trị giáo dục của chế độ phong kiến mà ở đây là triều Nguyễn. Văn Miếu ngày xưa là nơi thiêng liêng nhất đối với người đọc sách thánh hiền và Khổng Tử được tôn vinh là người thầy của muôn đời, ngang hàng với các vị Thánh. Võ Miếu được lập ra cũng để tôn vinh những công thần đã đóng góp nhiều công lao cho triều đại, mục đích động viên những người theo đòi võ nghiệp mong lập được chiến tích để lưu danh muôn thuở Triều Nguyễn lập ra Võ Miếu để khuyến khích nhân tài, tỏ sự công bằng giữa văn và võ. Nhưng tiếc thay, thực tế đã không được như vậy. Giá như đối với việc rèn luyện binh mã, nâng cao trình độ kỹ thuật quân sự, hiện đại hóa vũ khí luôn được chú trọng như việc đọc sách làm thơ thì đất nước ta đã có thể tránh khỏi họa xâm lăng suốt gần một thế kỷ. Võ Miếu vẫn còn đó, nếu để ghi danh những anh hùng có công với đất nước thì có lẽ sẽ không đủ chỗ. Nó chỉ còn là một chứng tích nhỏ bé, thầm lặng góp cùng những di tích khác khi nói về một Huế của ngày xưa.
Việc lập Văn Miếu cho thấy triều đình trọng Nho học và đề cao việc giáo dục. Tuy dựa trên nền tảng Nho học nhưng võ bị dưới thời Nguyễn cũng chiếm một vai trò khá quan trọng. Vì thế, vào năm 1835 dưới thời Minh Mạng, theo kiến nghị của Bộ Lễ, triều đình chuẩn y cho xây dựng Võ Miếu nhằm thể hiện sự chú trọng đến giáo dục quân sự và đề cao nghiệp võ. Theo vua Minh Mạng: “Điều cốt yếu trong việc trị nước phải gồm có cả văn lẫn võ, không thể thiên về một bên. Việc xây dựng Võ Miếu là việc nên làm... Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đời nào cũng có người tài giỏi binh cơ mưu lược, huống chi triều đình ta từ lúc khai quốc cho đến giai đoạn Trung hưng, nhiều người ra mưu giúp nước, công lao rực rỡ không kém gì người xưa, cần biểu dương để khuyến khích nhân tài...”.
Võ Miếu được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương. Với chu vi khoảng 400m, cấu trúc Võ Miếu cũng không cầu kỳ, gồm một miếu chính theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, phía trước có xây 2 nhà phụ gọi là Tả Vu và Hữu Vu đối diện nhau. Chung quanh có xây thành bao bọc, phía ngoài thành có nhà Tể sinh - là nơi giết súc vật khi tổ chức cúng tế. Năm 1839 (Minh Mạng thứ 20), triều đình cho dựng ba tấm bia Võ Công ở trước sân Võ Miếu. Những tấm bia này ghi tên những danh tướng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai triều vua Gia Long và Minh Mạng như: Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Nguyễn Xuân, Phạm Văn Điển... Về sau, còn có hai tấm bia ghi tên những Tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới thời Tự Đức: 1. Khoa Ất Sửu (1865) 2. Khoa Mậu Thìn (1868) 3. Khoa Kỷ Tỵ (1869). Bên cạnh một số danh tướng Việt Nam như: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Tôn Thất Hội..., trong miếu còn có bài vị thờ các danh tướng của Trung Quốc như: Hàn Tín, Trương Lương, Gia Cát Lượng... Việc tế lễ ở Võ Miếu được tổ chức một năm 2 lần vào mùa thu và mùa xuân. Phẩm vật cúng tế có những quy định riêng. Tuy nhiên, về sau phẩm vật có thay đổi (tùy theo quy định của từng triều vua) nhưng chủ yếu vẫn là tam sinh (trâu, heo, dê) và hương hoa, quả phẩm. Về hình thức, việc lập Võ Miếu nhằm tạo ra một sự đăng đối so với Văn Miếu.
Song thực tế, Võ Miếu không có vai trò quan trọng như Văn Miếu. Nho giáo hay chính xác là Nho học là hệ tư tưởng quán xuyến toàn bộ nền tảng chính trị giáo dục của chế độ phong kiến mà ở đây là triều Nguyễn. Văn Miếu ngày xưa là nơi thiêng liêng nhất đối với người đọc sách thánh hiền và Khổng Tử được tôn vinh là người thầy của muôn đời, ngang hàng với các vị Thánh. Võ Miếu được lập ra cũng để tôn vinh những công thần đã đóng góp nhiều công lao cho triều đại, mục đích động viên những người theo đòi võ nghiệp mong lập được chiến tích để lưu danh muôn thuở Triều Nguyễn lập ra Võ Miếu để khuyến khích nhân tài, tỏ sự công bằng giữa văn và võ. Nhưng tiếc thay, thực tế đã không được như vậy. Giá như đối với việc rèn luyện binh mã, nâng cao trình độ kỹ thuật quân sự, hiện đại hóa vũ khí luôn được chú trọng như việc đọc sách làm thơ thì đất nước ta đã có thể tránh khỏi họa xâm lăng suốt gần một thế kỷ. Võ Miếu vẫn còn đó, nếu để ghi danh những anh hùng có công với đất nước thì có lẽ sẽ không đủ chỗ. Nó chỉ còn là một chứng tích nhỏ bé, thầm lặng góp cùng những di tích khác khi nói về một Huế của ngày xưa.
Thursday, April 30, 2015
Hưng Miếu
Du Lịch Huế - Hưng Miếu (tức Hưng Tổ Miếu) thờ ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long. Sinh thời ông không ở ngôi chúa nhưng sau vẫn được truy tôn miếu hiệu là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế.
Địa điểm: Nằm trong khu vực Hoàng Thành Huế.
Hưng Miếu (tức Hưng Tổ Miếu) thờ ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long. Sinh thời ông không ở ngôi chúa nhưng sau vẫn được truy tôn miếu hiệu là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế. Miếu được dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc tây nam trong Hoàng thành, trên vị trí Thế Miếu hiện nay với tên gọi là Hoàng Khảo Miếu. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), Hoàng Khảo Miếu được dời lùi về phía bắc chừng 50m để lấy chỗ dựng Thế Miếu và đổi tên thành Hưng Tổ Miếu. Hưng Miếu nằm chung cùng khuôn viên với Thế Miếu nhưng có bờ tường gạch ngăn cách.
Miếu chính nằm ở vị trí trung tâm là một tòa nhà kép, chính đường 3 gian 2 chái kép, tiền đường 5 gian 2 chái đơn. Bên trong đặt thần khám thờ bài vị của Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế và Hoàng hậu. Hai bên miếu chính có tường ngắn ngăn cách, ở giữa tường trổ 2 cửa: Dục Khánh (bên đông), Chương Khánh (bên tây), phía trước là cửa miếu. Đi qua cửa Dục Khánh là Thần Khố (nhà kho), qua cửa Chương Khánh có nhà Thần Trù (nhà bếp). Từ khu vực Thần Khố, Thần Trù đều có cửa thông ra ngoài và qua khu Thế Miếu.
Lễ tế ở Hưng Miếu tổ chức mỗi năm 5 lần tựa như ở Thái Miếu, Thế Miếu. Đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, tháng 02-1947, Hưng Miếu bị đốt cháy hoàn toàn. Năm 1951, bà Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (mẹ vua Bảo Đại) đã mua một phủ thờ từ Kim Long đưa về dựng lại ở nền cũ tòa miếu chính. Năm 1995 tòa nhà này lại được tu bổ thêm một lần nữa. Trong lần tu bổ này, miếu được sơn son thếp vàng.
Địa điểm: Nằm trong khu vực Hoàng Thành Huế.
Hưng Miếu (tức Hưng Tổ Miếu) thờ ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long. Sinh thời ông không ở ngôi chúa nhưng sau vẫn được truy tôn miếu hiệu là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế. Miếu được dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc tây nam trong Hoàng thành, trên vị trí Thế Miếu hiện nay với tên gọi là Hoàng Khảo Miếu. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), Hoàng Khảo Miếu được dời lùi về phía bắc chừng 50m để lấy chỗ dựng Thế Miếu và đổi tên thành Hưng Tổ Miếu. Hưng Miếu nằm chung cùng khuôn viên với Thế Miếu nhưng có bờ tường gạch ngăn cách.
Miếu chính nằm ở vị trí trung tâm là một tòa nhà kép, chính đường 3 gian 2 chái kép, tiền đường 5 gian 2 chái đơn. Bên trong đặt thần khám thờ bài vị của Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế và Hoàng hậu. Hai bên miếu chính có tường ngắn ngăn cách, ở giữa tường trổ 2 cửa: Dục Khánh (bên đông), Chương Khánh (bên tây), phía trước là cửa miếu. Đi qua cửa Dục Khánh là Thần Khố (nhà kho), qua cửa Chương Khánh có nhà Thần Trù (nhà bếp). Từ khu vực Thần Khố, Thần Trù đều có cửa thông ra ngoài và qua khu Thế Miếu.
Lễ tế ở Hưng Miếu tổ chức mỗi năm 5 lần tựa như ở Thái Miếu, Thế Miếu. Đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, tháng 02-1947, Hưng Miếu bị đốt cháy hoàn toàn. Năm 1951, bà Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (mẹ vua Bảo Đại) đã mua một phủ thờ từ Kim Long đưa về dựng lại ở nền cũ tòa miếu chính. Năm 1995 tòa nhà này lại được tu bổ thêm một lần nữa. Trong lần tu bổ này, miếu được sơn son thếp vàng.
Tuesday, April 28, 2015
Khu du lịch sinh thái từ nhà tù Chín Hầm
Du Lịch Huế - Khu di tích lịch sử Chín Hầm nằm cách trung tâm TP Huế khoảng 6km về phía Tây Nam, dưới chân núi Thiên Thai thuộc phường An Tây. Gọi là Chín Hầm nhưng thực ra khu vực này chỉ có 8 hầm và 1 căn nhà lính gác trên đỉnh đồi. Đây vốn là kho vật liệu, vũ khí do quân đội Pháp xây dựng từ năm 1941 bằng bê tông cốt sắt.

Năm 1945, sau khi đảo chính hất cẳng thực dân Pháp, phát xít Nhật lấy toàn bộ vũ khí, khu Chín Hầm bị bỏ trống. Thực hiện chính sách bạo tàn của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Cẩn đã biến Chín Hầm thành những chuồng cọp giam giữ các chiến sĩ cách mạng, những người tham gia phong trào yêu nước…
Nhà ngục Chín Hầm gắn liền với những tội ác man rợ mà gia đình họ Ngô đã gây ra đối với đồng bào ta. Các hầm được Ngô Đình Cẩn cải tạo thành những khối bê tông hình chữ nhật nửa chìm, nửa nổi. Trong đó, hầm số 7 được coi là khắc nghiệt nhất trong hệ thống hầm ngục. Ngô Đình Cẩn cho cải tạo thành những xà lim kiểu chuồng cọp vừa 1 người với nhiều thủ đoạn dã man khác.
Cựu tù Côn Đảo Nguyễn Văn Thành hiện sống tại Hà Nội khi đến khu di tích lịch sử Chín Hầm đã thốt lên: “Bản thân tôi đã đối mặt với kẻ thù gần 11 năm ở các địa ngục: Bạch Đằng 3 - Chí Hòa rồi chuồng cọp, hầm đá Côn Đảo nhưng tôi phải rùng mình trước sự tàn bạo cùng cực của kẻ thù đối với đồng bào, đồng chí, đồng đội của tôi ở khu biệt giam Chín Hầm này”.
Để tưởng nhớ những chiến sĩ cộng sản, những đồng bào yêu nước đã ngã xuống tại nhà tù Chín Hầm, cũng là để ghi dấu tội ác của kẻ thù, năm 1993, Chín Hầm được tôn vinh là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Chín Hầm mang dấu ấn khắc ghi một thời đau thương, mất mát nhưng đầy anh dũng kiên cường của dân tộc ta. Khép lại quá khứ, “địa ngục trần gian” ngày nào đang trở thành một địa chỉ du lịch đặc biệt tại Huế với một màu xanh du lịch sinh thái. UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao cho Công ty Du lịch Hương Giang làm chủ đầu tư dự án, xây dựng Chín Hầm trở thành khu du lịch sinh thái, tham quan di tích quốc gia.
Theo đó, các hạng mục của dự án như tượng đài bất khuất, bức phù điêu dưới chân tượng đài, sân hành lễ, nhà tưởng niệm, nhà đón tiếp... tại khu vực di tích Chín Hầm đã được xây dựng và đưa vào sử dụng.
Tiếp đó, Công ty Du lịch Hương Giang tiến hành phủ xanh khu vực di tích Chín Hầm bằng các loại cây ngô đồng, thông, sim, sến, hoàng hậu, tùng bút...Những loại cây này được trồng phân bổ hợp lý để tạo nên cảnh quan thiên nhiên hữu tình hài hòa với cảnh sắc hùng vĩ vùng đồi núi Thiên Thai.
Năm 1945, sau khi đảo chính hất cẳng thực dân Pháp, phát xít Nhật lấy toàn bộ vũ khí, khu Chín Hầm bị bỏ trống. Thực hiện chính sách bạo tàn của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Cẩn đã biến Chín Hầm thành những chuồng cọp giam giữ các chiến sĩ cách mạng, những người tham gia phong trào yêu nước…
Nhà ngục Chín Hầm gắn liền với những tội ác man rợ mà gia đình họ Ngô đã gây ra đối với đồng bào ta. Các hầm được Ngô Đình Cẩn cải tạo thành những khối bê tông hình chữ nhật nửa chìm, nửa nổi. Trong đó, hầm số 7 được coi là khắc nghiệt nhất trong hệ thống hầm ngục. Ngô Đình Cẩn cho cải tạo thành những xà lim kiểu chuồng cọp vừa 1 người với nhiều thủ đoạn dã man khác.
Cựu tù Côn Đảo Nguyễn Văn Thành hiện sống tại Hà Nội khi đến khu di tích lịch sử Chín Hầm đã thốt lên: “Bản thân tôi đã đối mặt với kẻ thù gần 11 năm ở các địa ngục: Bạch Đằng 3 - Chí Hòa rồi chuồng cọp, hầm đá Côn Đảo nhưng tôi phải rùng mình trước sự tàn bạo cùng cực của kẻ thù đối với đồng bào, đồng chí, đồng đội của tôi ở khu biệt giam Chín Hầm này”.
Để tưởng nhớ những chiến sĩ cộng sản, những đồng bào yêu nước đã ngã xuống tại nhà tù Chín Hầm, cũng là để ghi dấu tội ác của kẻ thù, năm 1993, Chín Hầm được tôn vinh là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Chín Hầm mang dấu ấn khắc ghi một thời đau thương, mất mát nhưng đầy anh dũng kiên cường của dân tộc ta. Khép lại quá khứ, “địa ngục trần gian” ngày nào đang trở thành một địa chỉ du lịch đặc biệt tại Huế với một màu xanh du lịch sinh thái. UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao cho Công ty Du lịch Hương Giang làm chủ đầu tư dự án, xây dựng Chín Hầm trở thành khu du lịch sinh thái, tham quan di tích quốc gia.
Theo đó, các hạng mục của dự án như tượng đài bất khuất, bức phù điêu dưới chân tượng đài, sân hành lễ, nhà tưởng niệm, nhà đón tiếp... tại khu vực di tích Chín Hầm đã được xây dựng và đưa vào sử dụng.
Tiếp đó, Công ty Du lịch Hương Giang tiến hành phủ xanh khu vực di tích Chín Hầm bằng các loại cây ngô đồng, thông, sim, sến, hoàng hậu, tùng bút...Những loại cây này được trồng phân bổ hợp lý để tạo nên cảnh quan thiên nhiên hữu tình hài hòa với cảnh sắc hùng vĩ vùng đồi núi Thiên Thai.
Về Vinh Hiền
Du Lịch Huế - TT - Xuất phát ở TP Huế từ sáng sớm, chúng tôi lên ba chiếc xe máy theo quốc lộ 49B xuôi về cửa biển Thuận An rồi đi dọc con đường nhựa nằm xuyên suốt dải cát giữa biển và đầm phá về Vinh Hiền, vùng đất lãng mạn nhưng đầy dấu tích lịch sử của huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế.

Đầm Cầu Hai nhìn từ núi Thúy Vân - Ảnh: T.Lộc
Nằm men theo con đường là những làng mạc xanh tươi với những ngôi nhà rường, đình, chùa và nhà thờ cổ. Hơn một giờ với gần 50km đường qua nhanh, chợ Vinh Hiền đã ở trước mặt.
Chốn sơn kỳ...
Sau chuyến khám phá, sáng sớm khách có thể ghé chợ cá Hiền An dưới chân núi Thúy Vân để xem cảnh chợ cá đặc trưng vùng đầm phá, mua những hũ mắm rò, mắm cá cơm và tôm chua đặc sản về làm quà.
Từ chợ, rẽ vào đường bêtông nhỏ là đến chùa Thánh Duyên, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Ngôi chùa nằm trên núi Thúy Vân hình thành từ thế kỷ 17 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, trở thành quốc tự sau khi vua Minh Mạng cho xây dựng quy mô vào thế kỷ 19. Núi Thúy Vân um tùm cây cối, có nhiều công trình cổ. Khu rừng thông, xoài và mù u cổ thụ trên núi vẫn xanh tự nghìn năm.
Chuyện xưa kể rằng khi xây dựng chùa, vua Minh Mạng đã cho trồng 108 cây ngụ ý ngọn núi “Lương Sơn Bạc” của 108 vị hảo hán và đặt tên hai tảng đá hai bên là đá chuông, đá mỏ theo hình dạng. Ông cũng phong cái giếng vuông trong vắt dưới chân núi là giếng Cam Lồ. Đến thời mình, vị vua thi sĩ Thiệu Trị sau nhiều lần du ngoạn đã tinh ý khi “xếp hạng” núi Thúy Vân là cảnh sắc thứ chín trong số 20 cảnh đẹp đất kinh kỳ qua bài thơ Vân Sơn thắng tích...
Từ tháp Điều Ngự nằm ngay đỉnh núi với độ cao gần 50m nhìn xuống là “đệ nhất đầm” Cầu Hai được bao bọc bởi dãy núi Ngũ Phong và dải cát xanh rì ngăn cách với biển cả. Hàng nghìn nò sáo, thuyền đò của ngư dân nổi lên trên màu xanh của nước, hòa vào nền xanh núi non và nền trời làm khung cảnh vừa thoáng rộng vừa kỳ vĩ đẹp đến nao lòng.
... Nơi thủy tú
Rời chùa Thánh Duyên, băng qua cầu Tư Hiền bắc ngang đầm Cầu Hai là khu vực cửa biển Tư Dung xưa nối đầm Cầu Hai với biển cả. Có quá khứ cả nghìn năm, lúc bồi lúc mở, có lúc chạy dài suốt 5km mới tới được biển, cửa biển Tư Hiền nay tương đối nhỏ và cạn, chỉ những thuyền nhỏ mới vào ra được. Dấu tích cửa Tư Dung xưa chính là vịnh Hải Bình, một lạch nước tuyệt đẹp chạy dài giữa biển và dãy núi Ngũ Phong, nơi nuôi trai lấy ngọc từ nhiều năm nay.
Vịnh Hải Bình từng lưu dấu nàng Huyền Trân trong cuộc hôn phối lịch sử để đưa phần đất Ô - Lý về cho nước Đại Việt 700 năm trước. Lưu truyền trên đường xuất giá sang Chiêm Thành, công chúa Huyền Trân đã có một đêm “chơi vơi” trên thuyền ở vùng cửa biển, sau đó bái vọng tổ tiên trước lúc lên đường. Cái tên Tư Dung được đặt để tưởng nhớ vị công chúa đã quên mình cho đất nước...
Ngược xe đến bãi Hàm Rồng - bãi biển có hình dạng mỏm đá của núi Linh Thái được bào mòn qua vạn năm sóng nước, chúng tôi vào một quán ăn ven biển. Phát hiện ốc vú nàng bám nhiều ở những kẽ đá ngậm nước, các bạn hào hứng rủ nhau đi mò. Dưới nắng nhẹ giữa thu, bãi biển vắng vẻ và sạch sẽ, độ mát lạnh vừa đủ, mọi người thích thú vùng vẫy trong làn nước xanh trong. Bụng bắt đầu cồn cào, lên bờ cũng vừa lúc chủ quán bày hai đĩa mực ống, hai ký ghẹ và hai tô cháo cá vược nghi ngút khói trên bàn. “Tươi quá! Ngon quá!” - anh bạn vỗ đùi khi nếm thử và ăn như... chưa bao giờ được ăn.
Sau bữa trưa ngon lành, mỗi người lên một cái võng chủ quán treo sẵn dưới rừng phi lao đánh một giấc say trong làn gió nhẹ...
Đêm trên đầm
Sẩm tối, mọi người ra cảng cá Vinh Hiền lên đò ông Nguyễn Thọ, một ngư dân xã Vinh Hiền, để qua đêm trên đầm Cầu Hai. Đò tiến ra giữa đầm, dưới ánh trăng bạc ông Thọ vừa chèo vừa thả lưới và lừ - những ống lưới dài nối tiếp nhau - xuống đáy đầm. “Trăng vừa đủ sáng để gây mơ/Gió nhịp theo đêm không vội vàng/Khí trời quanh tôi làm bằng tơ/Khí trời quanh tôi làm bằng thơ...”, câu thơ trong bài thơ Nhị Hồ của Xuân Diệu cất lên trong không gian chơi vơi làm lòng người bâng khuâng. Chừng hai giờ buông neo, ông Thọ chèo thuyền đi kéo lưới, đủ loại cá vừa gỡ cho ngay vào nồi nấu.
“Bàn tiệc” tức thì hình thành với mấy món đặc sản vùng nước lợ như cá kình, ong, dìa, cá móm... dậy mùi tươi ngon. Bạn tiếp tục cất cao giọng: “Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ/Trầm trầm không gian mới rung thành tơ/Vương vấn heo may hoa yến mong chờ/Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ”... Trong tiếng sóng vỗ mạn thuyền, chàng Trương Chi như trở về kể chuyện tình xưa trong không gian bàng bạc ánh trăng giữa mênh mông trời nước.
Dần khuya, trăng mờ, cả nhóm ngủ chen dưới mui tròn trong “lời ru” nhịp nhàng của sóng...
Theo THÁI LỘC - PHAN THÀNH
Đầm Cầu Hai nhìn từ núi Thúy Vân - Ảnh: T.Lộc
Nằm men theo con đường là những làng mạc xanh tươi với những ngôi nhà rường, đình, chùa và nhà thờ cổ. Hơn một giờ với gần 50km đường qua nhanh, chợ Vinh Hiền đã ở trước mặt.
Chốn sơn kỳ...
Sau chuyến khám phá, sáng sớm khách có thể ghé chợ cá Hiền An dưới chân núi Thúy Vân để xem cảnh chợ cá đặc trưng vùng đầm phá, mua những hũ mắm rò, mắm cá cơm và tôm chua đặc sản về làm quà.
Từ chợ, rẽ vào đường bêtông nhỏ là đến chùa Thánh Duyên, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Ngôi chùa nằm trên núi Thúy Vân hình thành từ thế kỷ 17 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, trở thành quốc tự sau khi vua Minh Mạng cho xây dựng quy mô vào thế kỷ 19. Núi Thúy Vân um tùm cây cối, có nhiều công trình cổ. Khu rừng thông, xoài và mù u cổ thụ trên núi vẫn xanh tự nghìn năm.
Chuyện xưa kể rằng khi xây dựng chùa, vua Minh Mạng đã cho trồng 108 cây ngụ ý ngọn núi “Lương Sơn Bạc” của 108 vị hảo hán và đặt tên hai tảng đá hai bên là đá chuông, đá mỏ theo hình dạng. Ông cũng phong cái giếng vuông trong vắt dưới chân núi là giếng Cam Lồ. Đến thời mình, vị vua thi sĩ Thiệu Trị sau nhiều lần du ngoạn đã tinh ý khi “xếp hạng” núi Thúy Vân là cảnh sắc thứ chín trong số 20 cảnh đẹp đất kinh kỳ qua bài thơ Vân Sơn thắng tích...
Từ tháp Điều Ngự nằm ngay đỉnh núi với độ cao gần 50m nhìn xuống là “đệ nhất đầm” Cầu Hai được bao bọc bởi dãy núi Ngũ Phong và dải cát xanh rì ngăn cách với biển cả. Hàng nghìn nò sáo, thuyền đò của ngư dân nổi lên trên màu xanh của nước, hòa vào nền xanh núi non và nền trời làm khung cảnh vừa thoáng rộng vừa kỳ vĩ đẹp đến nao lòng.
... Nơi thủy tú
Rời chùa Thánh Duyên, băng qua cầu Tư Hiền bắc ngang đầm Cầu Hai là khu vực cửa biển Tư Dung xưa nối đầm Cầu Hai với biển cả. Có quá khứ cả nghìn năm, lúc bồi lúc mở, có lúc chạy dài suốt 5km mới tới được biển, cửa biển Tư Hiền nay tương đối nhỏ và cạn, chỉ những thuyền nhỏ mới vào ra được. Dấu tích cửa Tư Dung xưa chính là vịnh Hải Bình, một lạch nước tuyệt đẹp chạy dài giữa biển và dãy núi Ngũ Phong, nơi nuôi trai lấy ngọc từ nhiều năm nay.
Vịnh Hải Bình từng lưu dấu nàng Huyền Trân trong cuộc hôn phối lịch sử để đưa phần đất Ô - Lý về cho nước Đại Việt 700 năm trước. Lưu truyền trên đường xuất giá sang Chiêm Thành, công chúa Huyền Trân đã có một đêm “chơi vơi” trên thuyền ở vùng cửa biển, sau đó bái vọng tổ tiên trước lúc lên đường. Cái tên Tư Dung được đặt để tưởng nhớ vị công chúa đã quên mình cho đất nước...
Ngược xe đến bãi Hàm Rồng - bãi biển có hình dạng mỏm đá của núi Linh Thái được bào mòn qua vạn năm sóng nước, chúng tôi vào một quán ăn ven biển. Phát hiện ốc vú nàng bám nhiều ở những kẽ đá ngậm nước, các bạn hào hứng rủ nhau đi mò. Dưới nắng nhẹ giữa thu, bãi biển vắng vẻ và sạch sẽ, độ mát lạnh vừa đủ, mọi người thích thú vùng vẫy trong làn nước xanh trong. Bụng bắt đầu cồn cào, lên bờ cũng vừa lúc chủ quán bày hai đĩa mực ống, hai ký ghẹ và hai tô cháo cá vược nghi ngút khói trên bàn. “Tươi quá! Ngon quá!” - anh bạn vỗ đùi khi nếm thử và ăn như... chưa bao giờ được ăn.
Sau bữa trưa ngon lành, mỗi người lên một cái võng chủ quán treo sẵn dưới rừng phi lao đánh một giấc say trong làn gió nhẹ...
Đêm trên đầm
Sẩm tối, mọi người ra cảng cá Vinh Hiền lên đò ông Nguyễn Thọ, một ngư dân xã Vinh Hiền, để qua đêm trên đầm Cầu Hai. Đò tiến ra giữa đầm, dưới ánh trăng bạc ông Thọ vừa chèo vừa thả lưới và lừ - những ống lưới dài nối tiếp nhau - xuống đáy đầm. “Trăng vừa đủ sáng để gây mơ/Gió nhịp theo đêm không vội vàng/Khí trời quanh tôi làm bằng tơ/Khí trời quanh tôi làm bằng thơ...”, câu thơ trong bài thơ Nhị Hồ của Xuân Diệu cất lên trong không gian chơi vơi làm lòng người bâng khuâng. Chừng hai giờ buông neo, ông Thọ chèo thuyền đi kéo lưới, đủ loại cá vừa gỡ cho ngay vào nồi nấu.
“Bàn tiệc” tức thì hình thành với mấy món đặc sản vùng nước lợ như cá kình, ong, dìa, cá móm... dậy mùi tươi ngon. Bạn tiếp tục cất cao giọng: “Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ/Trầm trầm không gian mới rung thành tơ/Vương vấn heo may hoa yến mong chờ/Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ”... Trong tiếng sóng vỗ mạn thuyền, chàng Trương Chi như trở về kể chuyện tình xưa trong không gian bàng bạc ánh trăng giữa mênh mông trời nước.
Dần khuya, trăng mờ, cả nhóm ngủ chen dưới mui tròn trong “lời ru” nhịp nhàng của sóng...
Theo THÁI LỘC - PHAN THÀNH
Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế
Du Lịch Huế - Kể từ ngày thành lập (02/07/1976) Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế đã trải qua 32 năm xây dựng và phát triển với nhiều khó khăn và thử thách của các giai đoạn lịch sử, nhưng với truyền thống đoàn kết, sáng tạo và tinh thần vượt khó, các thế hệ nhà giáo của trường đã tự khẳng mình để tồn tại và phát triển bền vững, phấn đấu xây dựng Trường thành một trung tâm đào tạo có chất lượng và uy tín ở khu vực miền Trung, Tây nguyên và cả nước.
Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế được thành lập theo quyết định số 391/UB-QĐ ngày 02/07/1976 của UBND cách mạng tỉnh Bình Trị Thiên.
Quyết định số 164/TTg ngày 21-3-1978 về việc công nhận chính thức trường Cao đẳng sư phạm (10+3) Bình Trị Thiên của Thủ tướng Chính phủ cho phép Trường có đủ tư cách pháp nhân để đào tạo Cao đẳng sư phạm (12+3) theo chương trình của Bộ.
Chủ trương chia lại địa giới thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế (1989) là cột mốc quan trọng để từ đó Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế tự khẳng định mình trong chặng đường 10 năm thực hiện đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy theo chương trình, kế hoạch của Bộ.

Thực hiện định hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là “Tiếp tục quán triệt giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo” và Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư Trung ương về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giao dục”, Trường đã xây dựng đề án phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên, tạo điều kiện cho nhiều cán bộ giáo viên được đi học nâng cao trình độ sau đại học, nghiên cứu sinh và nhiều khoá bồi dưỡng nghiệp vụ khác.

Trong từng giai đoạn phát triển nhà trường vấn đề đào tạo giáo viên, những biện pháp trong công tác quản lý tổ chức bộ máy luôn được coi trọng, đổi mới cho phù hợp với xu thế thời đại, đó cũng là quy luật tất yếu của quá trình phát triển. Từ 14 đơn vị trực thuộc bao gồm 9 khoa, 4 phòng và 1 trung tâm, Trường đã mạnh dạn tinh giản tổ chức bộ máy chỉ còn 10 đơn vị trực thuộc; tổ chức 2 lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý trường cao đẳng cho hơn 50 cán bộ, giáo viên cốt cán và dự nguồn học tập và nhiều đợt bồi dưỡng khác theo chương trình của Dự án Đào tạo giáo viên trung học cơ sở.
Sau 32 năm xây dựng và phát triển, Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế đã khẳng định được là một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên có uy tín ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước, vinh dự được nhận cúp vàng Thương hiệu Việt hội nhập WTO 2007.
Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế được thành lập theo quyết định số 391/UB-QĐ ngày 02/07/1976 của UBND cách mạng tỉnh Bình Trị Thiên.
Quyết định số 164/TTg ngày 21-3-1978 về việc công nhận chính thức trường Cao đẳng sư phạm (10+3) Bình Trị Thiên của Thủ tướng Chính phủ cho phép Trường có đủ tư cách pháp nhân để đào tạo Cao đẳng sư phạm (12+3) theo chương trình của Bộ.
Chủ trương chia lại địa giới thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế (1989) là cột mốc quan trọng để từ đó Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế tự khẳng định mình trong chặng đường 10 năm thực hiện đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy theo chương trình, kế hoạch của Bộ.
Thực hiện định hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là “Tiếp tục quán triệt giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo” và Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư Trung ương về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giao dục”, Trường đã xây dựng đề án phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên, tạo điều kiện cho nhiều cán bộ giáo viên được đi học nâng cao trình độ sau đại học, nghiên cứu sinh và nhiều khoá bồi dưỡng nghiệp vụ khác.
Trong từng giai đoạn phát triển nhà trường vấn đề đào tạo giáo viên, những biện pháp trong công tác quản lý tổ chức bộ máy luôn được coi trọng, đổi mới cho phù hợp với xu thế thời đại, đó cũng là quy luật tất yếu của quá trình phát triển. Từ 14 đơn vị trực thuộc bao gồm 9 khoa, 4 phòng và 1 trung tâm, Trường đã mạnh dạn tinh giản tổ chức bộ máy chỉ còn 10 đơn vị trực thuộc; tổ chức 2 lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý trường cao đẳng cho hơn 50 cán bộ, giáo viên cốt cán và dự nguồn học tập và nhiều đợt bồi dưỡng khác theo chương trình của Dự án Đào tạo giáo viên trung học cơ sở.
Sau 32 năm xây dựng và phát triển, Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế đã khẳng định được là một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên có uy tín ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước, vinh dự được nhận cúp vàng Thương hiệu Việt hội nhập WTO 2007.
Monday, April 27, 2015
Đánh thức "Đệ nhất hùng quan" đất Việt
Du Lịch Huế - Hôm nay, 14/11 lãnh đạo TP Đà Nẵng tiến hành họp để nghe báo cáo phương án xây dựng điểm du lịch tại đỉnh đèo Hải Vân vốn được mệnh danh là “Đệ nhất hùng quan”. Con đèo dài gần 20km là đòn gánh nối Huế và Đà Nẵng nói riêng, miền Bắc và miền Nam nói chung.
Trên đỉnh đèo, du khách tha hồ ngắm cảnh trời biển và căng tràn lồng ngực với không khí trong lành, cỏ cây khoe sắc... Đây là một danh thắng lớn nhưng hiện vẫn "bỏ hoang" kể từ khi hầm đường bộ Hải Vân khánh thành.
Trở lại cung đường lên Hải Vân quan
Con đường ngắn nhất từ Đà Nẵng ra Huế và ngược lại là qua hầm Hải Vân. Còn đối với người ưa xê dịch, dù xa hơn, vất vả hơn, thậm chí là nguy hiểm hơn nhưng người ta vẫn chọn đường đèo, để chinh phục, để thưởng ngoạn và thêm những trải nghiệm.
Con đường uốn lượn, với hàng loạt những ngôi miếu bên đường, khiến tôi không khỏi cảm giác ớn lạnh. Thế mà 25 năm nay, hai người đàn ông “trấn” ở hai đầu đèo, ngày ngày vẫn hương hỏa, chăm sóc cho từng ngôi miếu: Nam Hải Vân có ông Thọ, Bắc Hải Vân có ông Bừa. Gắn bó với rừng núi 20 năm trời, thiếu trăm bề nhưng họ bảo “ai ăn rau quả rừng, uống nước suối Hải Vân đều không muốn xa nữa”.
Khách du lịch thích thú với vẻ đẹp tự nhiên của Hải Vân
Đường lên đỉnh đèo uốn lượn, gối đầu lên nhau đằm thắm như người tình dài vạn thế kỷ, những khúc cua đột ngột như giận như hờn. Lau lách hai bên đường đua nhau ngả mình theo gió. Lên đèo, du khách sẽ quên đi cái nắng nóng của miền Trung. Thời tiết đẹp như Đà Lạt, chẳng thế mà có cặp tình nhân đã đến đây tìm nơi chụp hình cưới cho mình.
Hải Vân giản dị với những bông hoa nhỏ li ti ven đường, với đàn bướm đủ các loại màu sắc. Đối lập với vẻ đẹp mong manh ấy là những vách đá dựng cheo leo tựa mình vào núi. Những phiến đá phẳng lì “trơ gan cùng tuế nguyệt” là đặc sản của đèo. Bất kỳ một ai đi qua, những người bạn, đặc biệt là dân phượt đều mong muốn khắc tên lưu dấu mình trên Hải Vân quan hùng vĩ.
Nếu ai đó từng tới vùng cao thích thú hình ảnh những người đàn ông lướt khướt bên đường sau phiên chợ tình thì tới đèo Hải Vân sẽ ấn tượng với bóng áo bạc màu của người tiều phu.
Nghề nghiệp chính của người dân trên đèo Hải Vân là "đi củi". Tôi gặp anh Nguyễn Văn Sơn mồ hôi nhễ nhại đang ngồi nghỉ bên đường với bó củi: “Nhà mình đi củi mấy đời rồi, một ngày được 5 vác thế này, bán hết được 80 nghìn, thế mà không đủ nuôi con cái”.
Đứng trên đèo, nhìn về thành phố, những ngôi nhà cao tầng nhỏ bằng gang tay, thành phố chìm sau làn nước biển xanh ngắt màu trời. Giọt mồ hôi rơi trên má người tiều phu khiến chúng tôi không khỏi bùi ngùi. Rõ ràng, Hải Vân có tiềm năng du lịch thế này, sao phải để người dân khổ thế?
Vẻ đẹp hoang sơ
Cả hai chục cây số “đẹp từng xen-ti-met”, chỗ nào du khách cũng có thể dừng chân ngắm cảnh, chụp hình, nhưng chỗ đậu xe lý tưởng nhất là đỉnh đèo. Ngày không nắng, sương bao phủ khắp, đứng cách nhau vài bước chân đã không thấy mặt. Cảm giác trời với đất gần nhau trong gang tấc.
Đỉnh đèo, theo hướng từ Nam ra Bắc, bên phải là di tích lịch sử từ năm 1952 “Chiến thắng đồi Nhất”, bên trái là hơn chục hàng quán. Di tích lịch sử oanh liệt thời chống Pháp nằm vẻn vẹn vài dòng trên tấm bia, mà chỉ người Việt mới đọc được. Những bức tường với vết găm của bom đạn quằn quại với rêu phong và sự tàn phá của thời gian. Nằm trong lau lách, di tích càng trở nên hoang sơ đến lạ.
Chiếc xe du lịch từ Hội An vừa dừng lại, hàng chục khách du lịch nước ngoài ào ra. Những triền lau trắng xóa vạt rừng khiến họ reo lên thích thú và kéo tay nhau chạy đến chụp hình. Nhìn từ trên đỉnh đèo, con đường mỏng manh như sợi chỉ trang điểm cho núi rừng, tiếng sóng biển hung dữ bỗng hiền hòa êm dịu.
Đối Nhất - di tích lịch sử đang bị thời gian tàn phá
Đứng trên đỉnh Hải Vân, biển mênh mông vô tận chỉ như một cái ao mà du khách là Thánh Gióng. Sắc xanh nối tiếp sắc xanh. Xanh của biển, của trời vô cùng là thế nhưng cũng bị màu xanh “muôn ngàn cây lá khác nhau” của rừng lấn át. Từ đây, du khách có thể hoàn toàn bao quát được hết Huế và Đà Nẵng.
Chị Mary đến từ Australia nói: “Vợ chồng tôi đã đi nhiều nơi nhưng hiếm thấy ở đâu đẹp trong trẻo như Hải Vân. Tôi biết đến nó trên mạng, giờ tận mắt chứng kiến thấy hoành tráng hơn nhiều”.
Cùng đoàn với Marry, anh John thêm vào: “Đoàn muốn ở lại trên đèo vài ngày để tận hưởng không khí trong lành mà không có chỗ ăn ở. Nếu có nhà hàng hay khách sạn trên này thì nên thiết kế cho nó hòa hợp với thiên nhiên, theo kiểu “nhà rừng”.
Thi sĩ đỉnh đèo
Từ khi hầm Hải Vân mở ra, đèo ít người qua lại, người buôn bán trở về quê cũ. Những hộ còn trụ lại với đèo phải là người có tình yêu tha thiết với núi rừng Hải Vân. Đỉnh đèo có tất cả 15 hàng quán sơ sài với vài đồ lưu niệm của xứ khác, vài lon nước ngọt, phong kẹo... không đủ mời gọi ai. Ngay sau khi nghe thông tin Đà Nẵng sẽ xây dựng điểm du lịch trên đỉnh đèo, những người bán hàng tụ tập nháo nhác hỏi: “Thật là như thế à? Tốt quá rồi”.
Chợt nhớ, ở đâu đó nơi đỉnh đèo này, có nhà thơ Lại Phiền Hà, chúng tôi tìm ông. Tiếp chúng tôi dưới bóng cây si, “cư sỹ” lãng du nổi tiếng Lại Phiền Hà lại nhìn xa xăm: “Người ta đang cãi nhau vì giành khách kìa. Không khí trong lành, tâm hồn trong sạch đang thiếu quá vì miếng cơm manh áo”.
Phiền Hà kể: "Mình đang làm khu “Vườn Thanh” cho khách tham quan miễn phí. Chỗ ấy có góc nhìn tuyệt đẹp, tha hồ khỏi bị “phiền hà”. Cây cảnh đã trồng được nhiều rồi”. Việc sẽ có điểm du lịch ở đây, nhà thơ bảo, ông đã đoán trước được chuyện này rồi.
Ra về, “cư sỹ” Hải Vân tặng chúng tôi tập thơ: “Mai em về ngắm Hải Vân tỏa sáng/ Đèo mây xanh nhiều những làn xe”.
Theo Hồng Thúy
Trên đỉnh đèo, du khách tha hồ ngắm cảnh trời biển và căng tràn lồng ngực với không khí trong lành, cỏ cây khoe sắc... Đây là một danh thắng lớn nhưng hiện vẫn "bỏ hoang" kể từ khi hầm đường bộ Hải Vân khánh thành.
Trở lại cung đường lên Hải Vân quan
Con đường ngắn nhất từ Đà Nẵng ra Huế và ngược lại là qua hầm Hải Vân. Còn đối với người ưa xê dịch, dù xa hơn, vất vả hơn, thậm chí là nguy hiểm hơn nhưng người ta vẫn chọn đường đèo, để chinh phục, để thưởng ngoạn và thêm những trải nghiệm.
Con đường uốn lượn, với hàng loạt những ngôi miếu bên đường, khiến tôi không khỏi cảm giác ớn lạnh. Thế mà 25 năm nay, hai người đàn ông “trấn” ở hai đầu đèo, ngày ngày vẫn hương hỏa, chăm sóc cho từng ngôi miếu: Nam Hải Vân có ông Thọ, Bắc Hải Vân có ông Bừa. Gắn bó với rừng núi 20 năm trời, thiếu trăm bề nhưng họ bảo “ai ăn rau quả rừng, uống nước suối Hải Vân đều không muốn xa nữa”.
Khách du lịch thích thú với vẻ đẹp tự nhiên của Hải Vân
Đường lên đỉnh đèo uốn lượn, gối đầu lên nhau đằm thắm như người tình dài vạn thế kỷ, những khúc cua đột ngột như giận như hờn. Lau lách hai bên đường đua nhau ngả mình theo gió. Lên đèo, du khách sẽ quên đi cái nắng nóng của miền Trung. Thời tiết đẹp như Đà Lạt, chẳng thế mà có cặp tình nhân đã đến đây tìm nơi chụp hình cưới cho mình.
Hải Vân giản dị với những bông hoa nhỏ li ti ven đường, với đàn bướm đủ các loại màu sắc. Đối lập với vẻ đẹp mong manh ấy là những vách đá dựng cheo leo tựa mình vào núi. Những phiến đá phẳng lì “trơ gan cùng tuế nguyệt” là đặc sản của đèo. Bất kỳ một ai đi qua, những người bạn, đặc biệt là dân phượt đều mong muốn khắc tên lưu dấu mình trên Hải Vân quan hùng vĩ.
Nếu ai đó từng tới vùng cao thích thú hình ảnh những người đàn ông lướt khướt bên đường sau phiên chợ tình thì tới đèo Hải Vân sẽ ấn tượng với bóng áo bạc màu của người tiều phu.
Nghề nghiệp chính của người dân trên đèo Hải Vân là "đi củi". Tôi gặp anh Nguyễn Văn Sơn mồ hôi nhễ nhại đang ngồi nghỉ bên đường với bó củi: “Nhà mình đi củi mấy đời rồi, một ngày được 5 vác thế này, bán hết được 80 nghìn, thế mà không đủ nuôi con cái”.
Đứng trên đèo, nhìn về thành phố, những ngôi nhà cao tầng nhỏ bằng gang tay, thành phố chìm sau làn nước biển xanh ngắt màu trời. Giọt mồ hôi rơi trên má người tiều phu khiến chúng tôi không khỏi bùi ngùi. Rõ ràng, Hải Vân có tiềm năng du lịch thế này, sao phải để người dân khổ thế?
Vẻ đẹp hoang sơ
Cả hai chục cây số “đẹp từng xen-ti-met”, chỗ nào du khách cũng có thể dừng chân ngắm cảnh, chụp hình, nhưng chỗ đậu xe lý tưởng nhất là đỉnh đèo. Ngày không nắng, sương bao phủ khắp, đứng cách nhau vài bước chân đã không thấy mặt. Cảm giác trời với đất gần nhau trong gang tấc.
Đỉnh đèo, theo hướng từ Nam ra Bắc, bên phải là di tích lịch sử từ năm 1952 “Chiến thắng đồi Nhất”, bên trái là hơn chục hàng quán. Di tích lịch sử oanh liệt thời chống Pháp nằm vẻn vẹn vài dòng trên tấm bia, mà chỉ người Việt mới đọc được. Những bức tường với vết găm của bom đạn quằn quại với rêu phong và sự tàn phá của thời gian. Nằm trong lau lách, di tích càng trở nên hoang sơ đến lạ.
Chiếc xe du lịch từ Hội An vừa dừng lại, hàng chục khách du lịch nước ngoài ào ra. Những triền lau trắng xóa vạt rừng khiến họ reo lên thích thú và kéo tay nhau chạy đến chụp hình. Nhìn từ trên đỉnh đèo, con đường mỏng manh như sợi chỉ trang điểm cho núi rừng, tiếng sóng biển hung dữ bỗng hiền hòa êm dịu.
Đối Nhất - di tích lịch sử đang bị thời gian tàn phá
Đứng trên đỉnh Hải Vân, biển mênh mông vô tận chỉ như một cái ao mà du khách là Thánh Gióng. Sắc xanh nối tiếp sắc xanh. Xanh của biển, của trời vô cùng là thế nhưng cũng bị màu xanh “muôn ngàn cây lá khác nhau” của rừng lấn át. Từ đây, du khách có thể hoàn toàn bao quát được hết Huế và Đà Nẵng.
Chị Mary đến từ Australia nói: “Vợ chồng tôi đã đi nhiều nơi nhưng hiếm thấy ở đâu đẹp trong trẻo như Hải Vân. Tôi biết đến nó trên mạng, giờ tận mắt chứng kiến thấy hoành tráng hơn nhiều”.
Cùng đoàn với Marry, anh John thêm vào: “Đoàn muốn ở lại trên đèo vài ngày để tận hưởng không khí trong lành mà không có chỗ ăn ở. Nếu có nhà hàng hay khách sạn trên này thì nên thiết kế cho nó hòa hợp với thiên nhiên, theo kiểu “nhà rừng”.
Thi sĩ đỉnh đèo
Từ khi hầm Hải Vân mở ra, đèo ít người qua lại, người buôn bán trở về quê cũ. Những hộ còn trụ lại với đèo phải là người có tình yêu tha thiết với núi rừng Hải Vân. Đỉnh đèo có tất cả 15 hàng quán sơ sài với vài đồ lưu niệm của xứ khác, vài lon nước ngọt, phong kẹo... không đủ mời gọi ai. Ngay sau khi nghe thông tin Đà Nẵng sẽ xây dựng điểm du lịch trên đỉnh đèo, những người bán hàng tụ tập nháo nhác hỏi: “Thật là như thế à? Tốt quá rồi”.
Chợt nhớ, ở đâu đó nơi đỉnh đèo này, có nhà thơ Lại Phiền Hà, chúng tôi tìm ông. Tiếp chúng tôi dưới bóng cây si, “cư sỹ” lãng du nổi tiếng Lại Phiền Hà lại nhìn xa xăm: “Người ta đang cãi nhau vì giành khách kìa. Không khí trong lành, tâm hồn trong sạch đang thiếu quá vì miếng cơm manh áo”.
Phiền Hà kể: "Mình đang làm khu “Vườn Thanh” cho khách tham quan miễn phí. Chỗ ấy có góc nhìn tuyệt đẹp, tha hồ khỏi bị “phiền hà”. Cây cảnh đã trồng được nhiều rồi”. Việc sẽ có điểm du lịch ở đây, nhà thơ bảo, ông đã đoán trước được chuyện này rồi.
Ra về, “cư sỹ” Hải Vân tặng chúng tôi tập thơ: “Mai em về ngắm Hải Vân tỏa sáng/ Đèo mây xanh nhiều những làn xe”.
Theo Hồng Thúy
Những ngôi giáo đường đẹp ở Huế - P2
Du Lịch Huế - Người Huế thường gọi nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp là Dòng Chúa cứu thế. Thực ra nhà thờ Dòng Chúa cứu thế là tên gọi dòng tu ở phía sau nhà thờ được xây dựng từ năm 1928, còn nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp do Kiến trúc sư Nguyễn Mỹ Lộc thiết kế, được xây dựng trong 3 năm, từ 1959 đến 1962.

Nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Hiện nay, nhà thờ thuộc phường Phú Nhuận, thành phố Huế. Khuôn viên nhà thờ rộng và có hình tam giác, đỉnh là giao của ngã ba đường Nguyễn Huệ và Nguyễn Khuyến. Nếu đi trên con đường Nguyễn Huế từ phía An Cựu đến, sẽ thấy hình ảnh chúa Jesus nhân từ đưa vòng tay nhân ái đón mọi sinh linh. Phía sau, ở góc khuôn viên của nhà thờ phía đường Nguyễn Khuyến là hang Đức Mẹ sịnh chúa Hài Đồng. Vật liệu chính xây nhà thờ là Bê tông và đá xanh, mái lợp ngói đất nung.


Mái nhà thờ cao 32m, chính giữa nhà thờ là tháp chuông. Tháp chuông nhà thờ hình bát giác gồm ba tầng và một chóp nhọn đỡ thánh giá, treo 4 quả chuông đồng lớn, nặng 1,5 tấn được điều khiển bằng hệ thống điện. Với một hệ thống cầu thang gấp khúc ở góc tường, mọi người có thể leo đến tháp chuông cao 53 mét để ngắm toàn cảnh phía Nam thành phố Huế.
Hành lang hai bên dài 26m, rộng 4,2m. Cung Thánh sâu 8,5m, bàn thờ chính giữa làm từ đá cẩm thạch được khai thác từ Ngũ Hành Sơn với kích thước 3,6 x 1,2 x 0,29m. Cạnh đó có 2 bàn thờ nhỏ cũng làm bằng loại đá quý này.

Kiến trúc đặc biệt của nhà thờ là cửa rộng và không có vách. Phần hiên của thánh đường được thiết kế rất rộng, khi đông người dự lễ có thể mở rộng cửa, vì thế người ở ngoài hiên vẫn có cảm giác như đang trong thánh đường.
Ngôi thánh đường uy nghi nhưng trong nội thất hoàn toàn vắng bóng những hàng cột chia cắt không gian. Hệ thống vòm cuốn từ những mảng tường vươn đến nóc thánh đường tạo ra một không gian rộng lớn, hoành tráng, uy nghi để con chiên thấy mình bé nhỏ trước đức Chúa cao vời vợi. Thánh đường rộng 38 mét, dài 72 mét nhưng vẫn đầy đủ ánh sáng nhờ việc lắp ghép những tấm kính màu cỡ lớn trên các mảng tường. Hơn nữa, sự biến đổi ánh sáng tự nhiên qua kính màu làm cho không gian lung linh, huyền ảo để mọi người như được gần Chúa hơn trong không gian tâm linh cầu nguyện.

Tôi vẫn thường qua lại trên con đường Nguyễn Huệ từ phía An Cựu, và cứ mỗi lần qua đó bao giờ tôi cũng thấy hình ảnh của Chúa Jesus nhân từ dang rộng vòng tay. Bản thân tôi mang hai dòng máu Phật giáo và Thiên chúa giáo. Khi mới ra đời trong gia đình ngoại, tôi đã được ông bà ngoại đưa đi rửa tội và hồi còn nhỏ tôi đã nghe mẹ tôi kể những câu chuyện về Đức chúa Jesus, về Đức mẹ Maria, rồi sự tích Đức Mẹ hiển linh ở Thánh đường La Vang, vì sao lại ăn chay (kiêng thịt) vào ngày thứ sáu… mà cho đến bây giờ vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Lớn lên về quê nội ở làng Dương Xuân (phường Thủy Xuân bây giờ), nơi đất Phật với hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ bên cạnh, hiển nhiên tôi trở thành một Phật tử thuần thành. Thế nhưng đối với tôi, Đức chúa Jesus lẫn Đức Phật Thích Ca đều là một, bởi lẽ giáo lý của cả hai đều có một cái đích chung hướng con người đến với Chân – Thiện – Mỹ.







Nguyễn Văn Liêm
Nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Hiện nay, nhà thờ thuộc phường Phú Nhuận, thành phố Huế. Khuôn viên nhà thờ rộng và có hình tam giác, đỉnh là giao của ngã ba đường Nguyễn Huệ và Nguyễn Khuyến. Nếu đi trên con đường Nguyễn Huế từ phía An Cựu đến, sẽ thấy hình ảnh chúa Jesus nhân từ đưa vòng tay nhân ái đón mọi sinh linh. Phía sau, ở góc khuôn viên của nhà thờ phía đường Nguyễn Khuyến là hang Đức Mẹ sịnh chúa Hài Đồng. Vật liệu chính xây nhà thờ là Bê tông và đá xanh, mái lợp ngói đất nung.
Mái nhà thờ cao 32m, chính giữa nhà thờ là tháp chuông. Tháp chuông nhà thờ hình bát giác gồm ba tầng và một chóp nhọn đỡ thánh giá, treo 4 quả chuông đồng lớn, nặng 1,5 tấn được điều khiển bằng hệ thống điện. Với một hệ thống cầu thang gấp khúc ở góc tường, mọi người có thể leo đến tháp chuông cao 53 mét để ngắm toàn cảnh phía Nam thành phố Huế.
Hành lang hai bên dài 26m, rộng 4,2m. Cung Thánh sâu 8,5m, bàn thờ chính giữa làm từ đá cẩm thạch được khai thác từ Ngũ Hành Sơn với kích thước 3,6 x 1,2 x 0,29m. Cạnh đó có 2 bàn thờ nhỏ cũng làm bằng loại đá quý này.
Kiến trúc đặc biệt của nhà thờ là cửa rộng và không có vách. Phần hiên của thánh đường được thiết kế rất rộng, khi đông người dự lễ có thể mở rộng cửa, vì thế người ở ngoài hiên vẫn có cảm giác như đang trong thánh đường.
Ngôi thánh đường uy nghi nhưng trong nội thất hoàn toàn vắng bóng những hàng cột chia cắt không gian. Hệ thống vòm cuốn từ những mảng tường vươn đến nóc thánh đường tạo ra một không gian rộng lớn, hoành tráng, uy nghi để con chiên thấy mình bé nhỏ trước đức Chúa cao vời vợi. Thánh đường rộng 38 mét, dài 72 mét nhưng vẫn đầy đủ ánh sáng nhờ việc lắp ghép những tấm kính màu cỡ lớn trên các mảng tường. Hơn nữa, sự biến đổi ánh sáng tự nhiên qua kính màu làm cho không gian lung linh, huyền ảo để mọi người như được gần Chúa hơn trong không gian tâm linh cầu nguyện.
Tôi vẫn thường qua lại trên con đường Nguyễn Huệ từ phía An Cựu, và cứ mỗi lần qua đó bao giờ tôi cũng thấy hình ảnh của Chúa Jesus nhân từ dang rộng vòng tay. Bản thân tôi mang hai dòng máu Phật giáo và Thiên chúa giáo. Khi mới ra đời trong gia đình ngoại, tôi đã được ông bà ngoại đưa đi rửa tội và hồi còn nhỏ tôi đã nghe mẹ tôi kể những câu chuyện về Đức chúa Jesus, về Đức mẹ Maria, rồi sự tích Đức Mẹ hiển linh ở Thánh đường La Vang, vì sao lại ăn chay (kiêng thịt) vào ngày thứ sáu… mà cho đến bây giờ vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Lớn lên về quê nội ở làng Dương Xuân (phường Thủy Xuân bây giờ), nơi đất Phật với hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ bên cạnh, hiển nhiên tôi trở thành một Phật tử thuần thành. Thế nhưng đối với tôi, Đức chúa Jesus lẫn Đức Phật Thích Ca đều là một, bởi lẽ giáo lý của cả hai đều có một cái đích chung hướng con người đến với Chân – Thiện – Mỹ.
Nguyễn Văn Liêm
Ngắm cảnh thiên nhiên tươi đẹp trên đèo Hải Vân
Du Lịch Huế - Nguy hiểm nhưng đèo Hải Vân vẫn được coi là con đèo nên thơ, hùng vĩ, tráng lệ bậc nhất Việt Nam.
Đèo Hải Vân nằm trên một dải núi cao thuộc dãy Trường Sơn, dải núi này cắt ngang phần lãnh thổ đất nước từ khu vực biên giới phía Tây tới tận sát bờ biển, nên được coi là danh giới tự nhiên giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng.
Đèo Hải Vân dài hơn 20km, đường qua đèo đã được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Do địa hình phức tạp, độ dốc tương đối cao, đường quanh co liên tục với nhiều đoạn cua rất nguy hiểm, lại thêm hay sụt lở về mùa mưa, nên trước khi hầm Hải Vân được xây dựng và đi vào hoạt động, đèo Hải Vân là con đèo nguy hiểm bậc nhất Việt Nam, là nỗi lo cho bất kỳ tài xế, hành khách nào khi di chuyển qua khu vực này.
Nguy hiểm là thế, nhưng đèo Hải Vân đồng thời cũng được coi là con đèo nên thơ, hùng vĩ, tráng lệ bậc nhất Việt Nam với một bên là biển xanh mênh mông, thăm thẳm, một bên là núi non điệp trùng, cảnh sắc vô cùng ngoạn mục. Chẳng thế mà vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông, sau khi vi hành nơi này, đã đặt tên cho đèo là “Đệ nhất hùng quan”. Cái tên này sau đó đã được vua Minh Mạng cho khắc lên cổng đá trên đỉnh đèo.
Kể từ tháng 6/2005, hầm Hải Vân được hoàn thành và đưa vào hoạt động, làm cho giao thông giữa Thừa Thiên Huế và TP Đà Nẵng trở nên thuận tiên, an toàn hơn rất nhiều. Bởi vậy, nơi đây được đầu tư phát triển thành cung đường du lịch. Các điểm dừng nghỉ trên đèo đã được xây dựng, tạo điều kiện cho du khách dừng chân nghỉ ngơi, thư giãn khi đi vãn cảnh trên đèo.
Đèo Hải Vân hướng TP Đà Nẵng.
Xe cộ phương tiện qua lại đèo Hải Vân giờ rất vắng vẻ, chỉ còn xe máy và một số ít loại phương tiện không được phép qua hầm đi lại trên con đường này. Với mặt đường còn khá tốt, đi lại dễ dàng, cảnh sắc hùng vĩ, nên thơ, lại là một con đèo nổi tiếng với lịch sử hàng trăm năm tuổi, nênđèo Hải Vân hấp dẫn dân du lịch bụi, dân phượt.
Một đoạn đèo từ trên cao nhìn xuống.

Một cột mốc ở lưng đèo Hải Vân.
Có chầm chậm phóng xe máy qua đèo một lần, và tận mắt ngắm nhìn cảnh đẹp nơi đây mới thấy cái tên “Đệ nhất hùng quan” quả thật xứng đáng.

Ở phía Nam của đèo, nhìn từ trên đèo xuống, TP Đà Nẵng hiện ra hiện đại, tráng lệ với những tòa nhà cao tầng, các nhà máy, ống khói vươn cao, nằm nép mình bên bờ biển xanh mềm mại, tỏa sáng như một viên ngọc trên biển đông.

Những tòa nhà cao tầng, những nhà máy vươn mình trên biển.
Ở phía Bắc đèo, thuộc địa phận Thừa Thiên Huế, đầm Lập An và làng chài Lăng Cô lại tạo nên một khung cảnh bình yên khác hẳn. Những ngôi nhà khang trang ngói mới soi mình xuống biển xanh thăm thẳm, những cồn cát trắng tinh khôi trải dài tít tắp, phía xa là dãy núi điệp trùng với mây trắng bao phủ, vút cao ở lưng chừng trời là cầu lên hầm Hải Vân chạy thẳng vào lòng núi. Tất cả tạo thành một bức tranh nên thơ khiến du khách chỉ có thể đứng lặm ngắm nhìn…

Làng chài Lăng Cô đẹp như tranh vẽ.
Chạy dọc đường đèo, biển xanh sẽ luôn hiện diện trong tầm nhìn của du khách, khi thì trải rộng ra đến muôn trùng, khi lại ở rất gần, rì rào và xanh thẳm...

Làng chài Lăng Cô, cầu lên hầm Hải Vân nhìn từ chân đèo.
Ở những đoạn thích hợp, du khách có thể đứng ở trên đèo và nhìn xuống đoạn đường ngoằn nghoèo, gấp khúc mình vừa đi qua ở phía dưới, trông vô cùng ngoạn mục.
Toàn cảnh Hải Vân quan.

Trên Hải Vân quan.

Cổ kính Hải Vân quan.
Án ngữ trên đỉnh đèo là Hải Vân quan mà vua Minh Mạng đã cho xây dựng. Trên có cổng đá với dòng chữ “Đệ nhất hùng quan” Ngài đã cho khắc năm xưa. Hải vân quan đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đây cũng là một điểm đến hấp dẫn du khách. Từ Hải Vân quan, có thể nhìn ngắm toàn bộ khung cảnh trên đèo.

Mùa mâm xôi dại trên đèo Hải Vân.

Du khách vui vẻ “tạo dáng” bên cột mốc chân đèo.
Độc Giả Dreamcatcher
Đèo Hải Vân nằm trên một dải núi cao thuộc dãy Trường Sơn, dải núi này cắt ngang phần lãnh thổ đất nước từ khu vực biên giới phía Tây tới tận sát bờ biển, nên được coi là danh giới tự nhiên giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng.
Đèo Hải Vân dài hơn 20km, đường qua đèo đã được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Do địa hình phức tạp, độ dốc tương đối cao, đường quanh co liên tục với nhiều đoạn cua rất nguy hiểm, lại thêm hay sụt lở về mùa mưa, nên trước khi hầm Hải Vân được xây dựng và đi vào hoạt động, đèo Hải Vân là con đèo nguy hiểm bậc nhất Việt Nam, là nỗi lo cho bất kỳ tài xế, hành khách nào khi di chuyển qua khu vực này.
Nguy hiểm là thế, nhưng đèo Hải Vân đồng thời cũng được coi là con đèo nên thơ, hùng vĩ, tráng lệ bậc nhất Việt Nam với một bên là biển xanh mênh mông, thăm thẳm, một bên là núi non điệp trùng, cảnh sắc vô cùng ngoạn mục. Chẳng thế mà vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông, sau khi vi hành nơi này, đã đặt tên cho đèo là “Đệ nhất hùng quan”. Cái tên này sau đó đã được vua Minh Mạng cho khắc lên cổng đá trên đỉnh đèo.
Kể từ tháng 6/2005, hầm Hải Vân được hoàn thành và đưa vào hoạt động, làm cho giao thông giữa Thừa Thiên Huế và TP Đà Nẵng trở nên thuận tiên, an toàn hơn rất nhiều. Bởi vậy, nơi đây được đầu tư phát triển thành cung đường du lịch. Các điểm dừng nghỉ trên đèo đã được xây dựng, tạo điều kiện cho du khách dừng chân nghỉ ngơi, thư giãn khi đi vãn cảnh trên đèo.
Đèo Hải Vân hướng TP Đà Nẵng.
Xe cộ phương tiện qua lại đèo Hải Vân giờ rất vắng vẻ, chỉ còn xe máy và một số ít loại phương tiện không được phép qua hầm đi lại trên con đường này. Với mặt đường còn khá tốt, đi lại dễ dàng, cảnh sắc hùng vĩ, nên thơ, lại là một con đèo nổi tiếng với lịch sử hàng trăm năm tuổi, nênđèo Hải Vân hấp dẫn dân du lịch bụi, dân phượt.
Một đoạn đèo từ trên cao nhìn xuống.
Một cột mốc ở lưng đèo Hải Vân.
Có chầm chậm phóng xe máy qua đèo một lần, và tận mắt ngắm nhìn cảnh đẹp nơi đây mới thấy cái tên “Đệ nhất hùng quan” quả thật xứng đáng.
Ở phía Nam của đèo, nhìn từ trên đèo xuống, TP Đà Nẵng hiện ra hiện đại, tráng lệ với những tòa nhà cao tầng, các nhà máy, ống khói vươn cao, nằm nép mình bên bờ biển xanh mềm mại, tỏa sáng như một viên ngọc trên biển đông.
Những tòa nhà cao tầng, những nhà máy vươn mình trên biển.
Ở phía Bắc đèo, thuộc địa phận Thừa Thiên Huế, đầm Lập An và làng chài Lăng Cô lại tạo nên một khung cảnh bình yên khác hẳn. Những ngôi nhà khang trang ngói mới soi mình xuống biển xanh thăm thẳm, những cồn cát trắng tinh khôi trải dài tít tắp, phía xa là dãy núi điệp trùng với mây trắng bao phủ, vút cao ở lưng chừng trời là cầu lên hầm Hải Vân chạy thẳng vào lòng núi. Tất cả tạo thành một bức tranh nên thơ khiến du khách chỉ có thể đứng lặm ngắm nhìn…
Làng chài Lăng Cô đẹp như tranh vẽ.
Chạy dọc đường đèo, biển xanh sẽ luôn hiện diện trong tầm nhìn của du khách, khi thì trải rộng ra đến muôn trùng, khi lại ở rất gần, rì rào và xanh thẳm...
Làng chài Lăng Cô, cầu lên hầm Hải Vân nhìn từ chân đèo.
Ở những đoạn thích hợp, du khách có thể đứng ở trên đèo và nhìn xuống đoạn đường ngoằn nghoèo, gấp khúc mình vừa đi qua ở phía dưới, trông vô cùng ngoạn mục.
Toàn cảnh Hải Vân quan.
Trên Hải Vân quan.
Cổ kính Hải Vân quan.
Án ngữ trên đỉnh đèo là Hải Vân quan mà vua Minh Mạng đã cho xây dựng. Trên có cổng đá với dòng chữ “Đệ nhất hùng quan” Ngài đã cho khắc năm xưa. Hải vân quan đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đây cũng là một điểm đến hấp dẫn du khách. Từ Hải Vân quan, có thể nhìn ngắm toàn bộ khung cảnh trên đèo.
Mùa mâm xôi dại trên đèo Hải Vân.
Du khách vui vẻ “tạo dáng” bên cột mốc chân đèo.
Độc Giả Dreamcatcher
Subscribe to:
Posts (Atom)