Thursday, April 30, 2015

Hưng Miếu

Du Lịch Huế - Hưng Miếu (tức Hưng Tổ Miếu) thờ ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long. Sinh thời ông không ở ngôi chúa nhưng sau vẫn được truy tôn miếu hiệu là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế.

Địa điểm: Nằm trong khu vực Hoàng Thành Huế.

Hưng Miếu (tức Hưng Tổ Miếu) thờ ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long. Sinh thời ông không ở ngôi chúa nhưng sau vẫn được truy tôn miếu hiệu là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế. Miếu được dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc tây nam trong Hoàng thành, trên vị trí Thế Miếu hiện nay với tên gọi là Hoàng Khảo Miếu. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), Hoàng Khảo Miếu được dời lùi về phía bắc chừng 50m để lấy chỗ dựng Thế Miếu và đổi tên thành Hưng Tổ Miếu. Hưng Miếu nằm chung cùng khuôn viên với Thế Miếu nhưng có bờ tường gạch ngăn cách.

Miếu chính nằm ở vị trí trung tâm là một tòa nhà kép, chính đường 3 gian 2 chái kép, tiền đường 5 gian 2 chái đơn. Bên trong đặt thần khám thờ bài vị của Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế và Hoàng hậu. Hai bên miếu chính có tường ngắn ngăn cách, ở giữa tường trổ 2 cửa: Dục Khánh (bên đông), Chương Khánh (bên tây), phía trước là cửa miếu. Đi qua cửa Dục Khánh là Thần Khố (nhà kho), qua cửa Chương Khánh có nhà Thần Trù (nhà bếp). Từ khu vực Thần Khố, Thần Trù đều có cửa thông ra ngoài và qua khu Thế Miếu.

Lễ tế ở Hưng Miếu tổ chức mỗi năm 5 lần tựa như ở Thái Miếu, Thế Miếu. Đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, tháng 02-1947, Hưng Miếu bị đốt cháy hoàn toàn. Năm 1951, bà Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (mẹ vua Bảo Đại) đã mua một phủ thờ từ Kim Long đưa về dựng lại ở nền cũ tòa miếu chính. Năm 1995 tòa nhà này lại được tu bổ thêm một lần nữa. Trong lần tu bổ này, miếu được sơn son thếp vàng.

Tuesday, April 28, 2015

Khu du lịch sinh thái từ nhà tù Chín Hầm

Du Lịch Huế - Khu di tích lịch sử Chín Hầm nằm cách trung tâm TP Huế khoảng 6km về phía Tây Nam, dưới chân núi Thiên Thai thuộc phường An Tây. Gọi là Chín Hầm nhưng thực ra khu vực này chỉ có 8 hầm và 1 căn nhà lính gác trên đỉnh đồi. Đây vốn là kho vật liệu, vũ khí do quân đội Pháp xây dựng từ năm 1941 bằng bê tông cốt sắt.



Năm 1945, sau khi đảo chính hất cẳng thực dân Pháp, phát xít Nhật lấy toàn bộ vũ khí, khu Chín Hầm bị bỏ trống. Thực hiện chính sách bạo tàn của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Cẩn đã biến Chín Hầm thành những chuồng cọp giam giữ các chiến sĩ cách mạng, những người tham gia phong trào yêu nước…

Nhà ngục Chín Hầm gắn liền với những tội ác man rợ mà gia đình họ Ngô đã gây ra đối với đồng bào ta. Các hầm được Ngô Đình Cẩn cải tạo thành những khối bê tông hình chữ nhật nửa chìm, nửa nổi. Trong đó, hầm số 7 được coi là khắc nghiệt nhất trong hệ thống hầm ngục. Ngô Đình Cẩn cho cải tạo thành những xà lim kiểu chuồng cọp vừa 1 người với nhiều thủ đoạn dã man khác.

Cựu tù Côn Đảo Nguyễn Văn Thành hiện sống tại Hà Nội khi đến khu di tích lịch sử Chín Hầm đã thốt lên: “Bản thân tôi đã đối mặt với kẻ thù gần 11 năm ở các địa ngục: Bạch Đằng 3 - Chí Hòa rồi chuồng cọp, hầm đá Côn Đảo nhưng tôi phải rùng mình trước sự tàn bạo cùng cực của kẻ thù đối với đồng bào, đồng chí, đồng đội của tôi ở khu biệt giam Chín Hầm này”.

Để tưởng nhớ những chiến sĩ cộng sản, những đồng bào yêu nước đã ngã xuống tại nhà tù Chín Hầm, cũng là để ghi dấu tội ác của kẻ thù, năm 1993, Chín Hầm được tôn vinh là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Chín Hầm mang dấu ấn khắc ghi một thời đau thương, mất mát nhưng đầy anh dũng kiên cường của dân tộc ta. Khép lại quá khứ, “địa ngục trần gian” ngày nào đang trở thành một địa chỉ du lịch đặc biệt tại Huế với một màu xanh du lịch sinh thái. UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao cho Công ty Du lịch Hương Giang làm chủ đầu tư dự án, xây dựng Chín Hầm trở thành khu du lịch sinh thái, tham quan di tích quốc gia.

Theo đó, các hạng mục của dự án như tượng đài bất khuất, bức phù điêu dưới chân tượng đài, sân hành lễ, nhà tưởng niệm, nhà đón tiếp... tại khu vực di tích Chín Hầm đã được xây dựng và đưa vào sử dụng.

Tiếp đó, Công ty Du lịch Hương Giang tiến hành phủ xanh khu vực di tích Chín Hầm bằng các loại cây ngô đồng, thông, sim, sến, hoàng hậu, tùng bút...Những loại cây này được trồng phân bổ hợp lý để tạo nên cảnh quan thiên nhiên hữu tình hài hòa với cảnh sắc hùng vĩ vùng đồi núi Thiên Thai.

Về Vinh Hiền

Du Lịch Huế - TT - Xuất phát ở TP Huế từ sáng sớm, chúng tôi lên ba chiếc xe máy theo quốc lộ 49B xuôi về cửa biển Thuận An rồi đi dọc con đường nhựa nằm xuyên suốt dải cát giữa biển và đầm phá về Vinh Hiền, vùng đất lãng mạn nhưng đầy dấu tích lịch sử của huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế.



Đầm Cầu Hai nhìn từ núi Thúy Vân - Ảnh: T.Lộc

Nằm men theo con đường là những làng mạc xanh tươi với những ngôi nhà rường, đình, chùa và nhà thờ cổ. Hơn một giờ với gần 50km đường qua nhanh, chợ Vinh Hiền đã ở trước mặt.

Chốn sơn kỳ...

Sau chuyến khám phá, sáng sớm khách có thể ghé chợ cá Hiền An dưới chân núi Thúy Vân để xem cảnh chợ cá đặc trưng vùng đầm phá, mua những hũ mắm rò, mắm cá cơm và tôm chua đặc sản về làm quà.

Từ chợ, rẽ vào đường bêtông nhỏ là đến chùa Thánh Duyên, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Ngôi chùa nằm trên núi Thúy Vân hình thành từ thế kỷ 17 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, trở thành quốc tự sau khi vua Minh Mạng cho xây dựng quy mô vào thế kỷ 19. Núi Thúy Vân um tùm cây cối, có nhiều công trình cổ. Khu rừng thông, xoài và mù u cổ thụ trên núi vẫn xanh tự nghìn năm.

Chuyện xưa kể rằng khi xây dựng chùa, vua Minh Mạng đã cho trồng 108 cây ngụ ý ngọn núi “Lương Sơn Bạc” của 108 vị hảo hán và đặt tên hai tảng đá hai bên là đá chuông, đá mỏ theo hình dạng. Ông cũng phong cái giếng vuông trong vắt dưới chân núi là giếng Cam Lồ. Đến thời mình, vị vua thi sĩ Thiệu Trị sau nhiều lần du ngoạn đã tinh ý khi “xếp hạng” núi Thúy Vân là cảnh sắc thứ chín trong số 20 cảnh đẹp đất kinh kỳ qua bài thơ Vân Sơn thắng tích...

Từ tháp Điều Ngự nằm ngay đỉnh núi với độ cao gần 50m nhìn xuống là “đệ nhất đầm” Cầu Hai được bao bọc bởi dãy núi Ngũ Phong và dải cát xanh rì ngăn cách với biển cả. Hàng nghìn nò sáo, thuyền đò của ngư dân nổi lên trên màu xanh của nước, hòa vào nền xanh núi non và nền trời làm khung cảnh vừa thoáng rộng vừa kỳ vĩ đẹp đến nao lòng.

... Nơi thủy tú

Rời chùa Thánh Duyên, băng qua cầu Tư Hiền bắc ngang đầm Cầu Hai là khu vực cửa biển Tư Dung xưa nối đầm Cầu Hai với biển cả. Có quá khứ cả nghìn năm, lúc bồi lúc mở, có lúc chạy dài suốt 5km mới tới được biển, cửa biển Tư Hiền nay tương đối nhỏ và cạn, chỉ những thuyền nhỏ mới vào ra được. Dấu tích cửa Tư Dung xưa chính là vịnh Hải Bình, một lạch nước tuyệt đẹp chạy dài giữa biển và dãy núi Ngũ Phong, nơi nuôi trai lấy ngọc từ nhiều năm nay.

Vịnh Hải Bình từng lưu dấu nàng Huyền Trân trong cuộc hôn phối lịch sử để đưa phần đất Ô - Lý về cho nước Đại Việt 700 năm trước. Lưu truyền trên đường xuất giá sang Chiêm Thành, công chúa Huyền Trân đã có một đêm “chơi vơi” trên thuyền ở vùng cửa biển, sau đó bái vọng tổ tiên trước lúc lên đường. Cái tên Tư Dung được đặt để tưởng nhớ vị công chúa đã quên mình cho đất nước...

Ngược xe đến bãi Hàm Rồng - bãi biển có hình dạng mỏm đá của núi Linh Thái được bào mòn qua vạn năm sóng nước, chúng tôi vào một quán ăn ven biển. Phát hiện ốc vú nàng bám nhiều ở những kẽ đá ngậm nước, các bạn hào hứng rủ nhau đi mò. Dưới nắng nhẹ giữa thu, bãi biển vắng vẻ và sạch sẽ, độ mát lạnh vừa đủ, mọi người thích thú vùng vẫy trong làn nước xanh trong. Bụng bắt đầu cồn cào, lên bờ cũng vừa lúc chủ quán bày hai đĩa mực ống, hai ký ghẹ và hai tô cháo cá vược nghi ngút khói trên bàn. “Tươi quá! Ngon quá!” - anh bạn vỗ đùi khi nếm thử và ăn như... chưa bao giờ được ăn.

Sau bữa trưa ngon lành, mỗi người lên một cái võng chủ quán treo sẵn dưới rừng phi lao đánh một giấc say trong làn gió nhẹ...

Đêm trên đầm

Sẩm tối, mọi người ra cảng cá Vinh Hiền lên đò ông Nguyễn Thọ, một ngư dân xã Vinh Hiền, để qua đêm trên đầm Cầu Hai. Đò tiến ra giữa đầm, dưới ánh trăng bạc ông Thọ vừa chèo vừa thả lưới và lừ - những ống lưới dài nối tiếp nhau - xuống đáy đầm. “Trăng vừa đủ sáng để gây mơ/Gió nhịp theo đêm không vội vàng/Khí trời quanh tôi làm bằng tơ/Khí trời quanh tôi làm bằng thơ...”, câu thơ trong bài thơ Nhị Hồ của Xuân Diệu cất lên trong không gian chơi vơi làm lòng người bâng khuâng. Chừng hai giờ buông neo, ông Thọ chèo thuyền đi kéo lưới, đủ loại cá vừa gỡ cho ngay vào nồi nấu.

“Bàn tiệc” tức thì hình thành với mấy món đặc sản vùng nước lợ như cá kình, ong, dìa, cá móm... dậy mùi tươi ngon. Bạn tiếp tục cất cao giọng: “Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ/Trầm trầm không gian mới rung thành tơ/Vương vấn heo may hoa yến mong chờ/Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ”... Trong tiếng sóng vỗ mạn thuyền, chàng Trương Chi như trở về kể chuyện tình xưa trong không gian bàng bạc ánh trăng giữa mênh mông trời nước.

Dần khuya, trăng mờ, cả nhóm ngủ chen dưới mui tròn trong “lời ru” nhịp nhàng của sóng...

Theo THÁI LỘC - PHAN THÀNH

Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế

Du Lịch Huế - Kể từ ngày thành lập (02/07/1976) Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế đã trải qua 32 năm xây dựng và phát triển với nhiều khó khăn và thử thách của các giai đoạn lịch sử, nhưng với truyền thống đoàn kết, sáng tạo và tinh thần vượt khó, các thế hệ nhà giáo của trường đã tự khẳng mình để tồn tại và phát triển bền vững, phấn đấu xây dựng Trường thành một trung tâm đào tạo có chất lượng và uy tín ở khu vực miền Trung, Tây nguyên và cả nước.
Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế được thành lập theo quyết định số 391/UB-QĐ ngày 02/07/1976 của UBND cách mạng tỉnh Bình Trị Thiên.

Quyết định số 164/TTg ngày 21-3-1978 về việc công nhận chính thức trường Cao đẳng sư phạm (10+3) Bình Trị Thiên của Thủ tướng Chính phủ cho phép Trường có đủ tư cách pháp nhân để đào tạo Cao đẳng sư phạm (12+3) theo chương trình của Bộ.

Chủ trương chia lại địa giới thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế (1989) là cột mốc quan trọng để từ đó Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế tự khẳng định mình trong chặng đường 10 năm thực hiện đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy theo chương trình, kế hoạch của Bộ.



Thực hiện định hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là “Tiếp tục quán triệt giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo” và Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư Trung ương về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giao dục”, Trường đã xây dựng đề án phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên, tạo điều kiện cho nhiều cán bộ giáo viên được đi học nâng cao trình độ sau đại học, nghiên cứu sinh và nhiều khoá bồi dưỡng nghiệp vụ khác.



Trong từng giai đoạn phát triển nhà trường vấn đề đào tạo giáo viên, những biện pháp trong công tác quản lý tổ chức bộ máy luôn được coi trọng, đổi mới cho phù hợp với xu thế thời đại, đó cũng là quy luật tất yếu của quá trình phát triển. Từ 14 đơn vị trực thuộc bao gồm 9 khoa, 4 phòng và 1 trung tâm, Trường đã mạnh dạn tinh giản tổ chức bộ máy chỉ còn 10 đơn vị trực thuộc; tổ chức 2 lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý trường cao đẳng cho hơn 50 cán bộ, giáo viên cốt cán và dự nguồn học tập và nhiều đợt bồi dưỡng khác theo chương trình của Dự án Đào tạo giáo viên trung học cơ sở.

Sau 32 năm xây dựng và phát triển, Trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế đã khẳng định được là một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên có uy tín ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước, vinh dự được nhận cúp vàng Thương hiệu Việt hội nhập WTO 2007.

Monday, April 27, 2015

Đánh thức "Đệ nhất hùng quan" đất Việt

Du Lịch Huế - Hôm nay, 14/11 lãnh đạo TP Đà Nẵng tiến hành họp để nghe báo cáo phương án xây dựng điểm du lịch tại đỉnh đèo Hải Vân vốn được mệnh danh là “Đệ nhất hùng quan”. Con đèo dài gần 20km là đòn gánh nối Huế và Đà Nẵng nói riêng, miền Bắc và miền Nam nói chung.

Trên đỉnh đèo, du khách tha hồ ngắm cảnh trời biển và căng tràn lồng ngực với không khí trong lành, cỏ cây khoe sắc... Đây là một danh thắng lớn nhưng hiện vẫn "bỏ hoang" kể từ khi hầm đường bộ Hải Vân khánh thành.

Trở lại cung đường lên Hải Vân quan

Con đường ngắn nhất từ Đà Nẵng ra Huế và ngược lại là qua hầm Hải Vân. Còn đối với người ưa xê dịch, dù xa hơn, vất vả hơn, thậm chí là nguy hiểm hơn nhưng người ta vẫn chọn đường đèo, để chinh phục, để thưởng ngoạn và thêm những trải nghiệm.

Con đường uốn lượn, với hàng loạt những ngôi miếu bên đường, khiến tôi không khỏi cảm giác ớn lạnh. Thế mà 25 năm nay, hai người đàn ông “trấn” ở hai đầu đèo, ngày ngày vẫn hương hỏa, chăm sóc cho từng ngôi miếu: Nam Hải Vân có ông Thọ, Bắc Hải Vân có ông Bừa. Gắn bó với rừng núi 20 năm trời, thiếu trăm bề nhưng họ bảo “ai ăn rau quả rừng, uống nước suối Hải Vân đều không muốn xa nữa”.

Khách du lịch thích thú với vẻ đẹp tự nhiên của Hải Vân

Đường lên đỉnh đèo uốn lượn, gối đầu lên nhau đằm thắm như người tình dài vạn thế kỷ, những khúc cua đột ngột như giận như hờn. Lau lách hai bên đường đua nhau ngả mình theo gió. Lên đèo, du khách sẽ quên đi cái nắng nóng của miền Trung. Thời tiết đẹp như Đà Lạt, chẳng thế mà có cặp tình nhân đã đến đây tìm nơi chụp hình cưới cho mình.

Hải Vân giản dị với những bông hoa nhỏ li ti ven đường, với đàn bướm đủ các loại màu sắc. Đối lập với vẻ đẹp mong manh ấy là những vách đá dựng cheo leo tựa mình vào núi. Những phiến đá phẳng lì “trơ gan cùng tuế nguyệt” là đặc sản của đèo. Bất kỳ một ai đi qua, những người bạn, đặc biệt là dân phượt đều mong muốn khắc tên lưu dấu mình trên Hải Vân quan hùng vĩ.

Nếu ai đó từng tới vùng cao thích thú hình ảnh những người đàn ông lướt khướt bên đường sau phiên chợ tình thì tới đèo Hải Vân sẽ ấn tượng với bóng áo bạc màu của người tiều phu.

Nghề nghiệp chính của người dân trên đèo Hải Vân là "đi củi". Tôi gặp anh Nguyễn Văn Sơn mồ hôi nhễ nhại đang ngồi nghỉ bên đường với bó củi: “Nhà mình đi củi mấy đời rồi, một ngày được 5 vác thế này, bán hết được 80 nghìn, thế mà không đủ nuôi con cái”.

Đứng trên đèo, nhìn về thành phố, những ngôi nhà cao tầng nhỏ bằng gang tay, thành phố chìm sau làn nước biển xanh ngắt màu trời. Giọt mồ hôi rơi trên má người tiều phu khiến chúng tôi không khỏi bùi ngùi. Rõ ràng, Hải Vân có tiềm năng du lịch thế này, sao phải để người dân khổ thế?

Vẻ đẹp hoang sơ

Cả hai chục cây số “đẹp từng xen-ti-met”, chỗ nào du khách cũng có thể dừng chân ngắm cảnh, chụp hình, nhưng chỗ đậu xe lý tưởng nhất là đỉnh đèo. Ngày không nắng, sương bao phủ khắp, đứng cách nhau vài bước chân đã không thấy mặt. Cảm giác trời với đất gần nhau trong gang tấc.

Đỉnh đèo, theo hướng từ Nam ra Bắc, bên phải là di tích lịch sử từ năm 1952 “Chiến thắng đồi Nhất”, bên trái là hơn chục hàng quán. Di tích lịch sử oanh liệt thời chống Pháp nằm vẻn vẹn vài dòng trên tấm bia, mà chỉ người Việt mới đọc được. Những bức tường với vết găm của bom đạn quằn quại với rêu phong và sự tàn phá của thời gian. Nằm trong lau lách, di tích càng trở nên hoang sơ đến lạ.

Chiếc xe du lịch từ Hội An vừa dừng lại, hàng chục khách du lịch nước ngoài ào ra. Những triền lau trắng xóa vạt rừng khiến họ reo lên thích thú và kéo tay nhau chạy đến chụp hình. Nhìn từ trên đỉnh đèo, con đường mỏng manh như sợi chỉ trang điểm cho núi rừng, tiếng sóng biển hung dữ bỗng hiền hòa êm dịu.

Đối Nhất - di tích lịch sử đang bị thời gian tàn phá


Đứng trên đỉnh Hải Vân, biển mênh mông vô tận chỉ như một cái ao mà du khách là Thánh Gióng. Sắc xanh nối tiếp sắc xanh. Xanh của biển, của trời vô cùng là thế nhưng cũng bị màu xanh “muôn ngàn cây lá khác nhau” của rừng lấn át. Từ đây, du khách có thể hoàn toàn bao quát được hết Huế và Đà Nẵng.

Chị Mary đến từ Australia nói: “Vợ chồng tôi đã đi nhiều nơi nhưng hiếm thấy ở đâu đẹp trong trẻo như Hải Vân. Tôi biết đến nó trên mạng, giờ tận mắt chứng kiến thấy hoành tráng hơn nhiều”.

Cùng đoàn với Marry, anh John thêm vào: “Đoàn muốn ở lại trên đèo vài ngày để tận hưởng không khí trong lành mà không có chỗ ăn ở. Nếu có nhà hàng hay khách sạn trên này thì nên thiết kế cho nó hòa hợp với thiên nhiên, theo kiểu “nhà rừng”.

Thi sĩ đỉnh đèo

Từ khi hầm Hải Vân mở ra, đèo ít người qua lại, người buôn bán trở về quê cũ. Những hộ còn trụ lại với đèo phải là người có tình yêu tha thiết với núi rừng Hải Vân. Đỉnh đèo có tất cả 15 hàng quán sơ sài với vài đồ lưu niệm của xứ khác, vài lon nước ngọt, phong kẹo... không đủ mời gọi ai. Ngay sau khi nghe thông tin Đà Nẵng sẽ xây dựng điểm du lịch trên đỉnh đèo, những người bán hàng tụ tập nháo nhác hỏi: “Thật là như thế à? Tốt quá rồi”.

Chợt nhớ, ở đâu đó nơi đỉnh đèo này, có nhà thơ Lại Phiền Hà, chúng tôi tìm ông. Tiếp chúng tôi dưới bóng cây si, “cư sỹ” lãng du nổi tiếng Lại Phiền Hà lại nhìn xa xăm: “Người ta đang cãi nhau vì giành khách kìa. Không khí trong lành, tâm hồn trong sạch đang thiếu quá vì miếng cơm manh áo”.

Phiền Hà kể: "Mình đang làm khu “Vườn Thanh” cho khách tham quan miễn phí. Chỗ ấy có góc nhìn tuyệt đẹp, tha hồ khỏi bị “phiền hà”. Cây cảnh đã trồng được nhiều rồi”. Việc sẽ có điểm du lịch ở đây, nhà thơ bảo, ông đã đoán trước được chuyện này rồi.

Ra về, “cư sỹ” Hải Vân tặng chúng tôi tập thơ: “Mai em về ngắm Hải Vân tỏa sáng/ Đèo mây xanh nhiều những làn xe”.

Theo Hồng Thúy

Những ngôi giáo đường đẹp ở Huế - P2

Du Lịch Huế - Người Huế thường gọi nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp là Dòng Chúa cứu thế. Thực ra nhà thờ Dòng Chúa cứu thế là tên gọi dòng tu ở phía sau nhà thờ được xây dựng từ năm 1928, còn nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp do Kiến trúc sư Nguyễn Mỹ Lộc thiết kế, được xây dựng trong 3 năm, từ 1959 đến 1962.



Nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Hiện nay, nhà thờ thuộc phường Phú Nhuận, thành phố Huế. Khuôn viên nhà thờ rộng và có hình tam giác, đỉnh là giao của ngã ba đường Nguyễn Huệ và Nguyễn Khuyến. Nếu đi trên con đường Nguyễn Huế từ phía An Cựu đến, sẽ thấy hình ảnh chúa Jesus nhân từ đưa vòng tay nhân ái đón mọi sinh linh. Phía sau, ở góc khuôn viên của nhà thờ phía đường Nguyễn Khuyến là hang Đức Mẹ sịnh chúa Hài Đồng. Vật liệu chính xây nhà thờ là Bê tông và đá xanh, mái lợp ngói đất nung.





Mái nhà thờ cao 32m, chính giữa nhà thờ là tháp chuông. Tháp chuông nhà thờ hình bát giác gồm ba tầng và một chóp nhọn đỡ thánh giá, treo 4 quả chuông đồng lớn, nặng 1,5 tấn được điều khiển bằng hệ thống điện. Với một hệ thống cầu thang gấp khúc ở góc tường, mọi người có thể leo đến tháp chuông cao 53 mét để ngắm toàn cảnh phía Nam thành phố Huế.
Hành lang hai bên dài 26m, rộng 4,2m. Cung Thánh sâu 8,5m, bàn thờ chính giữa làm từ đá cẩm thạch được khai thác từ Ngũ Hành Sơn với kích thước 3,6 x 1,2 x 0,29m. Cạnh đó có 2 bàn thờ nhỏ cũng làm bằng loại đá quý này.



Kiến trúc đặc biệt của nhà thờ là cửa rộng và không có vách. Phần hiên của thánh đường được thiết kế rất rộng, khi đông người dự lễ có thể mở rộng cửa, vì thế người ở ngoài hiên vẫn có cảm giác như đang trong thánh đường.
Ngôi thánh đường uy nghi nhưng trong nội thất hoàn toàn vắng bóng những hàng cột chia cắt không gian. Hệ thống vòm cuốn từ những mảng tường vươn đến nóc thánh đường tạo ra một không gian rộng lớn, hoành tráng, uy nghi để con chiên thấy mình bé nhỏ trước đức Chúa cao vời vợi. Thánh đường rộng 38 mét, dài 72 mét nhưng vẫn đầy đủ ánh sáng nhờ việc lắp ghép những tấm kính màu cỡ lớn trên các mảng tường. Hơn nữa, sự biến đổi ánh sáng tự nhiên qua kính màu làm cho không gian lung linh, huyền ảo để mọi người như được gần Chúa hơn trong không gian tâm linh cầu nguyện.



Tôi vẫn thường qua lại trên con đường Nguyễn Huệ từ phía An Cựu, và cứ mỗi lần qua đó bao giờ tôi cũng thấy hình ảnh của Chúa Jesus nhân từ dang rộng vòng tay. Bản thân tôi mang hai dòng máu Phật giáo và Thiên chúa giáo. Khi mới ra đời trong gia đình ngoại, tôi đã được ông bà ngoại đưa đi rửa tội và hồi còn nhỏ tôi đã nghe mẹ tôi kể những câu chuyện về Đức chúa Jesus, về Đức mẹ Maria, rồi sự tích Đức Mẹ hiển linh ở Thánh đường La Vang, vì sao lại ăn chay (kiêng thịt) vào ngày thứ sáu… mà cho đến bây giờ vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Lớn lên về quê nội ở làng Dương Xuân (phường Thủy Xuân bây giờ), nơi đất Phật với hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ bên cạnh, hiển nhiên tôi trở thành một Phật tử thuần thành. Thế nhưng đối với tôi, Đức chúa Jesus lẫn Đức Phật Thích Ca đều là một, bởi lẽ giáo lý của cả hai đều có một cái đích chung hướng con người đến với Chân – Thiện – Mỹ.

















Nguyễn Văn Liêm

Ngắm cảnh thiên nhiên tươi đẹp trên đèo Hải Vân

Du Lịch Huế - Nguy hiểm nhưng đèo Hải Vân vẫn được coi là con đèo nên thơ, hùng vĩ, tráng lệ bậc nhất Việt Nam.

Đèo Hải Vân nằm trên một dải núi cao thuộc dãy Trường Sơn, dải núi này cắt ngang phần lãnh thổ đất nước từ khu vực biên giới phía Tây tới tận sát bờ biển, nên được coi là danh giới tự nhiên giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng.

Đèo Hải Vân dài hơn 20km, đường qua đèo đã được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Do địa hình phức tạp, độ dốc tương đối cao, đường quanh co liên tục với nhiều đoạn cua rất nguy hiểm, lại thêm hay sụt lở về mùa mưa, nên trước khi hầm Hải Vân được xây dựng và đi vào hoạt động, đèo Hải Vân là con đèo nguy hiểm bậc nhất Việt Nam, là nỗi lo cho bất kỳ tài xế, hành khách nào khi di chuyển qua khu vực này.

Nguy hiểm là thế, nhưng đèo Hải Vân đồng thời cũng được coi là con đèo nên thơ, hùng vĩ, tráng lệ bậc nhất Việt Nam với một bên là biển xanh mênh mông, thăm thẳm, một bên là núi non điệp trùng, cảnh sắc vô cùng ngoạn mục. Chẳng thế mà vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông, sau khi vi hành nơi này, đã đặt tên cho đèo là “Đệ nhất hùng quan”. Cái tên này sau đó đã được vua Minh Mạng cho khắc lên cổng đá trên đỉnh đèo.

Kể từ tháng 6/2005, hầm Hải Vân được hoàn thành và đưa vào hoạt động, làm cho giao thông giữa Thừa Thiên Huế và TP Đà Nẵng trở nên thuận tiên, an toàn hơn rất nhiều. Bởi vậy, nơi đây được đầu tư phát triển thành cung đường du lịch. Các điểm dừng nghỉ trên đèo đã được xây dựng, tạo điều kiện cho du khách dừng chân nghỉ ngơi, thư giãn khi đi vãn cảnh trên đèo.

Đèo Hải Vân hướng TP Đà Nẵng.

Xe cộ phương tiện qua lại đèo Hải Vân giờ rất vắng vẻ, chỉ còn xe máy và một số ít loại phương tiện không được phép qua hầm đi lại trên con đường này. Với mặt đường còn khá tốt, đi lại dễ dàng, cảnh sắc hùng vĩ, nên thơ, lại là một con đèo nổi tiếng với lịch sử hàng trăm năm tuổi, nênđèo Hải Vân hấp dẫn dân du lịch bụi, dân phượt.

Một đoạn đèo từ trên cao nhìn xuống.



Một cột mốc ở lưng đèo Hải Vân.

Có chầm chậm phóng xe máy qua đèo một lần, và tận mắt ngắm nhìn cảnh đẹp nơi đây mới thấy cái tên “Đệ nhất hùng quan” quả thật xứng đáng.



Ở phía Nam của đèo, nhìn từ trên đèo xuống, TP Đà Nẵng hiện ra hiện đại, tráng lệ với những tòa nhà cao tầng, các nhà máy, ống khói vươn cao, nằm nép mình bên bờ biển xanh mềm mại, tỏa sáng như một viên ngọc trên biển đông.



Những tòa nhà cao tầng, những nhà máy vươn mình trên biển.

Ở phía Bắc đèo, thuộc địa phận Thừa Thiên Huế, đầm Lập An và làng chài Lăng Cô lại tạo nên một khung cảnh bình yên khác hẳn. Những ngôi nhà khang trang ngói mới soi mình xuống biển xanh thăm thẳm, những cồn cát trắng tinh khôi trải dài tít tắp, phía xa là dãy núi điệp trùng với mây trắng bao phủ, vút cao ở lưng chừng trời là cầu lên hầm Hải Vân chạy thẳng vào lòng núi. Tất cả tạo thành một bức tranh nên thơ khiến du khách chỉ có thể đứng lặm ngắm nhìn…



Làng chài Lăng Cô đẹp như tranh vẽ.

Chạy dọc đường đèo, biển xanh sẽ luôn hiện diện trong tầm nhìn của du khách, khi thì trải rộng ra đến muôn trùng, khi lại ở rất gần, rì rào và xanh thẳm...



Làng chài Lăng Cô, cầu lên hầm Hải Vân nhìn từ chân đèo.

Ở những đoạn thích hợp, du khách có thể đứng ở trên đèo và nhìn xuống đoạn đường ngoằn nghoèo, gấp khúc mình vừa đi qua ở phía dưới, trông vô cùng ngoạn mục.

Toàn cảnh Hải Vân quan.



Trên Hải Vân quan.



Cổ kính Hải Vân quan.

Án ngữ trên đỉnh đèo là Hải Vân quan mà vua Minh Mạng đã cho xây dựng. Trên có cổng đá với dòng chữ “Đệ nhất hùng quan” Ngài đã cho khắc năm xưa. Hải vân quan đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đây cũng là một điểm đến hấp dẫn du khách. Từ Hải Vân quan, có thể nhìn ngắm toàn bộ khung cảnh trên đèo.



Mùa mâm xôi dại trên đèo Hải Vân.



Du khách vui vẻ “tạo dáng” bên cột mốc chân đèo.

Độc Giả Dreamcatcher