Thursday, November 3, 2016

Đồ Chơi Trẻ Em Siêu Nhân Nhật Bản

Đồ Chơi Trẻ Em Siêu Nhân Nhật Bản - Kids VN Giới Thiệu Đồ Chơi 5 Anh Em Siêu Nhân Mới!
- Bộ đồ chơi 5 anh em siêu nhân gồm phần chính là 5 anh em siêu nhân, được sản xuất tại nhật bản, bộ đồ chơi này được làm bằng nhựa cứng tạo nên cảm giác khoẻ và chắc chắn cho các em nhỏ! bộ đồ chơi trẻ em 5 anh em siêu nhân này hôm có siêu nhân đỏ, siêu nhân xanh, siêu nhân đen, siêu nhân trắng và siêu nhân bạc! mỗi nhân vật đều thể hiện được hình giáng và đường nét cũng như cá tính riêng! các em hãy cùng kênh Kids VN khám phá bộ đồ chơi siêu nhân này nhé!


- Hãy Đăng Ký Kênh, Bấm Thích Video và chia sẽ để ủng hộ kênh đồ chơi trẻ em của mình nhé các bạn!
Đăng Ký Kênh Tại Đây Nhé: https://www.youtube.com/watch?v=WDdKzhRvGys

Wednesday, November 2, 2016

Christmas Toys 2016 For Kids

Christmas Toys 2016 For Kids Spiderman Review Captain America Toys Kids VN

Christmas is a holiday of the year, is the big day, because we have such a family occasion in which our children pick up this great holidays by creating videos and toys Interestingly, in particular in this video, channel VN Kids like to introduce you to the toy superheroes Spiderman toys introduce marvel superhero Captain America! I would like to believe that this toy! Please subscribe to the channel, click like and share the video Christmas Toys 2016
https://www.youtube.com/watch?v=lIoWXCSP15Q

Tuesday, June 9, 2015

Đàn Xã Tắc - Cố Đô Huế

Đàn Xã Tắc (Huế) - Địa điểm: Phường Thuận Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đàn Xã Tắc được xây dựng vào tháng 3 năm Bính Dần, tức tháng 4 năm 1806. Đàn được xây dựng bên trong Kinh thành, phía bên phải Đại Nội, nay thuộc phường Thuận Hòa.

Đàn Xã Tắc được triều đình dùng để cúng tế thần Xã (thần Đất), thần Tắc (thần Lúa).

Điều đặc biệt của Đàn Xã Tắc là khi xây dựng Đàn, vua Gia Long đã ban chiếu cho tất cả các tỉnh, thành, dinh, trấn trên cả nước phải chuyên chở về Kinh đô một số đất sạch, chắc để đắp Đàn. Đất để đắp Đàn Xã Tắc là đất của cả nước, tượng trưng cho máu thịt của toàn quốc, vì vậy, Đàn Xã Tắc càng trở nên thiêng liêng và quý giá hơn.

Đàn Xã Tắc ngày xưa năm 1914 ( ảnh tư liệu )

Diện mạo của Đàn Xã Tắc, nằm lộ thiên quay mặt về hướng Bắc, Đàn gồn hai tầng hình vuông. Tầng trên cao 1,60m, mỗi cạnh dài 28m. Mặt nền được tô 5 màu (Ở giữa màu vàng, phía Đông màu xanh, phía Tây màu trắng, Nam màu đỏ, Bắc màu đen). Trên nền thiết trí 32 bệ đá để cắm tàn. Lan can quét vôi vàng. Giữa 4 mặt có xây bậc để lên xuống. Tầng dưới cao 1,20m, mỗi cạnh dài 70m. Mặt nền phía trước lát gạch, cao 1m có bổ trụ ở bốn góc và ở từng đoạn. Lan can quét vôi màu đỏ. Vòng tường thành hình chữ nhật bằng đá, cạnh Bắc - Nam dài 162m, cạnh Đông - Tây dài 202m. Tường cao gần 1,20m, dày 0,75m. Trổ 3 cửa ở mặt Bắc, các mặt còn lại mỗi mặt trổ 1 cửa. Ở mặt Nam có bức bình phong dài 10m, cao 3,70m, dày 0,85m. Ở mặt Bắc có hồ vuông, mỗi cạnh 57m.

Hàng năm triều đình tổ chức lễ cúng tế vào tháng 2 và tháng 8 âm lịch. Sau khi nhà Nguyễn cáo chung, Đàn Xã Tắc tàn tạ dần. Trước năm 1975, Đàn Xã Tắc được làm khu gia binh, nay là Khu Tập thể Xã Tắc với hơn 40 dãy nhà.

Dấu tích còn lại của Đàn Xã Tắc là một khoảng đất trống mỗi bề 30m, tương đương với mặt bằng tầng trên của Đàn cũ, một tấm bia bằng đá thanh, hồ ở phía Bắc và bình phong ở phía Nam.

Hiện nay, Trung tâm BTDT CĐ Huế đang nỗ lực khôi phục diện mạo của Đàn Xã Tắc để bảo tồn những giá trị vật chất và tinh thần của di tích này trong cuộc sống đương đại, góp phần gìn giữ và phát huy di sản văn hóa Huế một cách phong phú và toàn diện hơn.

Friday, May 8, 2015

Điện Kiến Trung

Điện Kiến Trung trong Tử Cấm thành (Huế) được vua Khải Định cho xây vào năm 1921-1923 cùng thời gian với xây lăng để làm nơi sinh hoạt của vua trong hoàng cung. Ngày 6-11-1925 vua Khải Định đã băng hà tại điện này.



Điện Kiến Trung làm bằng giấy (đồ mã) đốt trong tang lễ vua Khải Định vào năm 1926

Sau này, vua Bảo Đại cho tu sửa lại điện, tân trang các tiện nghi Tây phương và cùng hoàng hậu Nam Phương dọn về ở tại điện Kiến Trung. Tại điện này, Hoàng hậu Nam Phương đã lần lượt hạ sanh 5 người con :

- Thái tử Bảo Long, sinh ngày 4-1-1936

- Công chúa Phương Mai, sinh ngày 1-8-1937

- Công chúa Phương Liên, sinh ngày 3-11-1938

- Công chúa Phương Dung, sinh ngày 5-2-1942

- Hoàng tử Bảo Thắng, sinh ngày 9-12-1943.

Ngày 9 tháng 3, Nhật đảo chính Pháp và thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam. Hai ngày sau, 11 Tháng Ba vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo.

Điện Kiến Trung xưa được xây dựng trong Tử Cấm Thành, nay thuộc địa bàn phường Thuận Thành, Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Điện có kiến trúc mang phong cách châu Âu, lúc đầu chỉ gồm có lầu Du Cửu, do vua Duy Tân cho xây dựng vào năm 1915 trên nền cũ của lầu Minh Viễn.

Đến năm 1916, vua Khải Định mở rộng thành cung điện và đặt tên là điện Kiến Trung, dùng làm nơi ở và làm việc của vua. Bên trái toà lầu có phòng Đông Cung, bên phải có Võ Hộ Giá phòng. Đến thời vua Bảo Đại, điện Kiến Trung là nơi ăn ở và sinh hoạt của cả gia đình nhà vua, bao gồm hoàng hậu Nam Phương, hoàng thái tử Bảo Long, hoàng tử Bảo Thăng và các hoàng nữ Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung. Trong chiến sự năm 1947, điện đã bị cháy rụi hoàn toàn. Hiện lầu Kiến Trung đang được lên kế hoạch khôi phục.

Wednesday, May 6, 2015

Cửu đỉnh Huế: Bộ sưu tập độc đáo hình ảnh đất nước

Cửu đỉnh Huế - Trong kho tàng văn hóa vật thể của cố đô Huế, Cửu đỉnh là một trong những công trình nghệ thuật đặc sắc nhất, một tượng đài văn hóa Việt.

Ai đã từng tham quan Đại nội Huế, đến trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu (nơi thờ các vua triều Nguyễn) đều không khỏi ngỡ ngàng, thán phục trước 9 chiếc đỉnh đồng đồ sộ, uy nghi như chứng nhân của lịch sử của một vương triều tồn tại 143 năm.

Theo sách “Đại Nam thực lục chính biên”, bộ Cửu đỉnh được vua Minh Mạng cho khởi đúc vào tháng 12/1835 và hoàn thành tháng 6/1837, do những nghệ nhân Phường đúc Huế thực hiện. Tất cả 9 đỉnh đều có hình dáng chung giống nhau, thân bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới có ba chân. Nhưng kích thước và khối lượng (khối lượng các đỉnh được ghi rõ bên trái cổ đỉnh) lại không giống nhau, đỉnh cao nhất (Cao đỉnh) 2,5m, nặng 2.061 kg, đỉnh thấp nhất (Huyền đỉnh) 2,3m, nặng 1.935 kg.

Các cặp quai trên miệng đỉnh không hoàn toàn giống nhau, cặp đúc vuông, cặp đúc tròn, cặp xoắn theo kiểu dây thừng. Chân đỉnh cũng khác nhau, có bộ uốn theo kiểu chân quỳ, có bộ đúc thẳng. Trên mỗi đỉnh đều khắc nổi tên hiệu do vua Minh Mạng đặt, ứng với thụy hiệu các vị vua Nguyễn. Mở đầu là Cao đỉnh tượng trưng cho sự vĩ đại; Nhân (Nhơn đỉnh) là lòng tốt, tượng trưng đức; Chương đỉnh là sự gương mẫu, là ánh sáng; Anh đỉnh là tài giỏi vinh hạnh, hiển đạt; Nghị đỉnh là ý chí kiên cường, cương nghị; Thuần đỉnh là sự hoàn thiện, phong phú; Tuyên đỉnh là sự hài hòa, tinh thông; Dụ đỉnh là nền tảng sự thịnh vượng; Huyền đỉnh, ứng với nơi sâu thẳm.

Sau khi hoàn thành, Cửu đỉnh được đặt thẳng hàng trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu. Riêng Cao đỉnh được đặt ở giữa và lên trước các đỉnh khác 3m, tượng trưng cho Cao Thế tổ Hoàng đế Nguyễn Ánh - người lập nên vương triều Nguyễn.

Có thể nói Cửu đỉnh là tác phẩm nghệ thuật tổng hợp của nhiều lĩnh vực như: kiến trúc, hội họa, lịch sử, địa lý, văn hóa và sự diệu nghệ của kỹ thuật đúc đồng Việt Nam đầu thề kỷ XIX, từ thiết kế, vẽ mẫu, rồi làm phôi khuôn. Người thợ phải làm ra những chiếc khuôn theo kích cỡ, mẫu mã, ký tự, hoa lá, chim muông, cảnh vật… để khi đúc ra các mẫu tạo ấy sẽ được kết dính với nhau một cách tự nhiên, giống như tự thân nó mọc ra vậy. Quả là kỳ công, tỷ mỉ vô cùng.

Bộ Cửu đỉnh không chỉ thể hiện ước nguyện bền vững trường tồn của vương triều Nguyễn như chỉ dụ của vua Minh Mạng: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu… Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc 9 cái đỉnh để ở nhà Thế miếu... Đó là để tỏ ý mong rằng, muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định”.

Cửu đỉnh còn là bộ sưu tập đặc sắc của văn hóa Việt Nam, với 153 hình ảnh tiêu biểu đặc trưng nhưng cũng rất gần gũi thân thuộc của đất nước từ Nam ra Bắc được chạm khắc nổi trên Cửu đỉnh. Tất cả 153 mảng hình trên Cửu đỉnh là những bức chạm độc lập, sống động, tinh xảo, là sự kết hợp điêu luyện giữa nghệ thuật đúc và chạm nổi đồ đồng đạt trình độ tuyệt kỹ của những người thợ đúc đồng Việt Nam.

Quanh hông mỗi đỉnh được bố trí 17 cảnh vật được sắp xếp theo một biểu đồ hợp lý, chia làm ba hàng ngang, mỗi hàng gồm một chủng loại, mỗi hình ảnh đều có ghi tên từng cảnh vật. Đặc biệt Cửu đỉnh là 9 đỉnh, nên các hình ảnh được thể hiện cũng xoay quanh con số 9 đặc trưng như: 9 vì tinh tú và thiên nhiên trong vũ trụ là Mặt trời, Mặt trăng, Gió, Sấm, Mây, Mưa, các sao Ngũ Tinh, Bắc Đẩu, Nam Đẩu; 9 ngọn núi lớn: Thiên Tôn, Ngự Bình, Thương Sơn, Hồng Lĩnh, Tản Viên, Núi Duệ, Đại Lãnh, Hải Vân, Hoành Sơn; 9 sông lớn: sông Hậu, sông Tiền, sông Mã, Bạch Đằng, sông Hồng, sông Hương, sông Gianh, Thạch Hãn, sông Lam.

Cửu đỉnh còn chạm khắc hình 9 cửa biển, cửa quan, biển, cầu vồng; 9 con thú lớn bốn chân; 9 con vật linh; 9 loài chim; 9 loài cây lương thực; 9 loại rau củ; 9 loại hoa; 9 loại cây lấy quả; 9 loại dược liệu quý; 9 loại cây thân gỗ; 9 loại vũ khí; 9 loài cá, ốc, côn trùng; 9 loại thuyền, xe, cờ. Tất cả những số 9 ấy hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên sông núi đất trời Việt Nam thống nhất hoành tráng.

Chiêm ngưỡng Cửu đỉnh Huế, du khách gần xa như được tham quan một bộ sưu tập triển lãm độc đáo những hình ảnh của đất nước một cách đầy đủ và thi vị nhất. Vì thế trải qua gần 200 năm nay, Cửu đỉnh Huế không chỉ được coi là một trong những tuyệt tác của nghệ thuật đúc đồng Việt Nam, mà còn là một di sản văn hóa lịch sử đặc sắc có một không hai của Huế và của Việt Nam.

Tuesday, May 5, 2015

Chùa Thiên Mụ

Du Lịch Huế - Chùa nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long.

Tên của ngôi chùa bắt nguồn từ một huyền thoại. Chuyện kể rằng từ xa xưa, dân địa phương đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên ngọn đồi nơi chùa toạ lạc ngày nay, và nói: rồi sẽ có chân chúa đến lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch. Hễ nói xong là bà biến mất.

Sau khi vào trấn Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng một lần đi qua, nghe kể chuyện đã cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ Tự. Chùa nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long.



Năm 1601 chùa được xây dựng. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5m nặng 3285 kg, và năm 1715, chúa lại cho xây dựng tấm bia cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch. Vào thời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trùng tu chùa. Tháp Phước Duyên (ban đầu được đặt tên là tháp Từ Nhân) được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21 m). Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga.

Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói còn treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng năm 1714. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa.

Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi, rực rỡ. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch, phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.



Ngày nay chùa vẫn được tiếp tục chỉnh trang ngày càng huy hoàng, tráng lệ, luôn hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách gần xa.

Sunday, May 3, 2015

Định Huệ tự - ngôi chùa trên thượng nguồn sông Hương

Du Lịch Huế - "Chùa Định Huệ tọa lạc tại trên thượng nguồn sông Hương thuộc thôn Lương Miêu xã Dương Hòa, huỵện Hương Thủy nên còn gọi là chùa Lương Miêu. Muốn đến thăm chùa, có hai con đường, đường bộ theo đường Dạ Lê hoặc đường Tuần lên, nhưng thuận tiện hơn cả là đi thuyền trên sông Hương vì như thế vừa được tham quan sông Hương ngắm cảnh quan kỳ tú vừa mát mẻ mà lại khỏe người hơn.."

Từ sau năm 1975, thời kỳ mà cả nước đang gặp nhiều khó khăn, các chùa ở Huế phải đi làm ruộng, làm nương, có chùa thì đi mót khoai mót sắn từ các cánh đồng về để độ nhật. Trong tình hình đó ở Huế có một sư cô một thân một mình vượt núi trèo non lên tận thôn Lương Miêu nơi thượng nguồn sông Hương để khai hoang làm rẩy, lập thất, dựng tượng vừa tu trì vừa lao động độ sinh.

Chúng tôi ngược dòng sông Hương trên con đò vào một chiều hè Huế nắng nóng như đổ lửa. Lần lượt, đi qua rất nhiều những danh lam thắng cảnh chùa Thiên Mụ uy nghi, điện Hòn Chén linh thiêng, Văn Thánh cổ kính, đồi Vọng Cảnh thông reo, Núi Tứ Tượng với tượng Đài Bồ Tát Quán Thế Âm trắng giữa mây ngàn, cầu Tuần vắt ngang giữa trời xanh... Đò đến thôn Bằng Lãng đoạn sông hai nhánh thì rẽ theo dòng Hữu trạch hướng đi Tuần giữa những làng quê thôn dã và núi non trùng điệp, hai bên bờ có rất nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng dân gian như đình, chùa, am, miếu... một số nơi người ta còn cúng bái rình rang. Đây cũng là một yếu tố để người Huế gọi sông Hương là dòng sông tâm linh.

Đi được khoảng gần 3 giờ đồng hồ thì đò qua khỏi thôn Tân Ba và Dương Hòa - chiến khu xưa một thời đạn bom cày xới, người chủ đò chở chúng tôi phải khó khăn lắm mới điều khiển con đò len lỏi vượt qua những khúc sông cạn nhìn thấy đáy và giữa dòng có nhiều cồn cỏ dại, chia dòng nước chảy ra hai phía ven bờ. Để sau hơn 3 giờ đồng hồ ngược dòng sông Hương, chiếc đò mới rẽ lái cập bờ. Chúng tôi được hướng dẫn vượt qua một dải đất phù sa và leo lên một con dốc thoai thoải hai bên đầy những tre nứa và cây rừng, vừa lên khỏi dốc, một chiếc cổng tam quan nhỏ nhắn xinh xắn hiện ra dưới cái nắng chiều vàng chiếu lên 3 chữ Hán "Định Huệ Tự" (chùa Định Huệ). Và trong không gian núi rừng có tiếng mõ vang vọng theo gió chiều hiu hiu khiến cho chúng tôi như vỡ òa lên với bao niềm xúc động "trời ơi, giữa chốn núi rừng hiu quạnh thế nầy mà có ai đến dựng chùa thờ Phật gõ mõ tụng kinh". Theo con đường đất quanh co đi qua một chiếc cổng phụ vào một khu vườn, ngôi chánh điện chùa Định Huệ thấp thoáng hiện ra dưới những tán cây rừng rậm rạp.

Tôi đi ngay vào chánh điện, nơi có tiếng mõ đang vọng ra, một vị Ni sư già dáng người gầy dừng mõ quay sang tôi nở nụ cười hiền hòa và vái chào thân thiện. Thoạt nhìn vị Ni sư rất tội ghiệp, và thiệt thà như chính những người ở rừng đúng nghĩa. Sau khi thăm hỏi sơ qua, tôi theo Ni sư xuống nhà Tăng và cùng chào mọi người. Với tính hài hước Ni sư chuyện trò và tự giới thiệu Ni sư pháp hiệu là Thích Nữ Minh Tâm, năm nay nữa là đã hưởng được 70 mùa xuân. Ni sư vốn quê ở huyện Hải Lăng, Quảng Trị bởi cảm mến cảnh thiền môn nên đã vào Huế nhập chúng tu học và hành đạo tại tịnh thất Hoàng Mai... Và chúng tôi rất ấn tượng bởi giọng nói ào ào như đàn ông "thưa quý vị kiếp trước tui là đàn ông, nhưng do vụng tu nên kiếp ni phải bị đọa làm đàn bà nhưng dư báo vẫn còn nên tui vẫn có lối sống và cách nói năng đi đứng như đàn ông và bị 'đày' lên đây một thân một mình cùng gió núi mây ngàn heo hút". Ni sự vừa cười vừa nói với mọi người.

Ni sư cho biết, sau năm 1975 núi rừng nơi đây hoang vu dữ dằn lắm không như bây giờ đâu, một thân một mình ngày đêm cày xới hơn 2 hetca đất rừng để trồng trọt làm nương làm rẫy. Mà quý vị biết rồi, đến vùng đất lạ dẫu có mạnh mẻ đến mấy nhưng cũng có lúc phải run sợ trước những hiện tượng tự nhiên huống chi "đến đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vẫy vùng cũng run". Đã rứa, buổi đầu thì có chi mô, một cái lều tranh tạm bợ, đêm hôm nghe sột soạt bên ngoài cũng thấy lo, lâu dần mới thành quen, và hình như Hộ pháp, Long thiên, và sơn thần thổ địa ở đây cũng ủng hộ nên đã che chở không cho tui thấy điều gì đáng sợ và cũng không có hiện tượng ma quỷ hay thú dữ nào đến quấy phá.

Nghe Ni sư kể, chúng tôi đồng thời liên tưởng đến hình ảnh một vị sư cô chỉ mới vừa hơn 30 tuổi thôi mà đã dám một thân một mình đến giữa chốn núi rừng hoang vu nầy khai sơn lập tự mà tâm phục khẩu phục. Không tâm phục khẩu phục sao được khi mà mãi cho đến hôm nay, khi cơ ngơi đã lên hình lên dạng, chùa chiền tăng xá đã khá kiên cố, đời sống kinh tế cũng tạm ổn nhưng chẳng có ai dám đến đây để đồng tu với Ni sư. "Họ sợ lắm, chốn núi rừng khỉ ho cò gáy, không trường không lớp ai mà lên" Ni sư nói. Hiện có một ni cô vừa được Ni sư về mượn dưới chùa phố lên để "có chúng mà an cư" nhìn có vẻ hơi buồn nhưng bước đầu cũng đã thích nghi.

Ngôi chùa Định Huệ bây giờ được Ni sư cho xây dựng vào năm Bính Tuất (2006) tuy khiêm tốn, nhỏ nhoi chỉ khoảng chừng 200m2 nằm lọt thỏm giữa núi rừng đại ngàn nhưng như thế cũng đã là khá khang trang lắm rồi. Giữa chốn thâm sơn cùng cốc nơi thượng nguồn sông Hương nầy mà làm được như thế là đã ngoài sức tưởng tượng lắm rồi huống hồ chi nguồn kinh phí để xây dựng chùa nhờ vào sự chắt góp được từ bán những trái mít, những trái vả hay những lứa bạch đàn thì quả là quá thần kỳ, thi thoảng lắm mới có một vài Phật tử quen biết tìm lên thăm chùa, thăm Ni sư cúng dường một ít tịnh tài tịnh vật.

Ni sư đãi chúng tôi bằng những chén nước lá thơm nức mùi hương hoa rừng, những múi mít vừa hái xuống còn ngấn những giọt mật đường ngọt lịm và những tô mì ăn liền với rau rừng, những chén cơm nguội và nước tương nguyên chất đạm bạc nhưng sao thấy ngấm nặng tình đạo vô cùng.

Chào Ni sư, chào ngôi chùa Định Huệ trên thượng nguồn để xuôi theo dòng nước sông Hương thâm thẩm tối để ra về mà lòng nghe nặng một nỗi niềm cảm khái khôn nguôi...